Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

Khám phá trong nghiên cứu khoa học xã hội qua các phương pháp định lượng

http://stepsandleaps.files.wordpress.com/2011/06/wordle-general-survey.jpgNăm ngoái tôi có dịp nói chuyện ở Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ (thực ra, đây là phân viện khoa học xã hội ở phía Nam), và có dịp tiếp xúc với những nghiên cứu của Viện và Viện Khoa học Xã hội. Một điểm chung của các nghiên cứu này là sự trống vắng của phương pháp định lượng (quantitative methods). Do đó, khi được mời nói chuyện trong Hội thảo Khoa học Xã hội thời Hội nhập (15/12/2011) tôi sẽ nói về khám phá trong khoa học xã hội qua phương pháp định lượng. Dưới đây là bản abstract (tóm tắt) của bài nói chuyện của tôi trong Hội thảo.
Trong Hội thảo này, có lẽ tôi là một người đơn độc. Nhìn vào chương trình hội thảo thấy rất nhiều bài nói chuyện định tính hơn là định lượng, và hình như tập trung vào những vấn đề mang tính chung chung hơn là những nghiên cứu cụ thể. Không thấy những nghiên cứu đáp ứng các vấn đề cấp thiết xã hội đang đặt ra. Nhưng có lẽ điều này cũng dễ hiểu vì chủ đề của Hội thảo là “hội nhập” quốc tế. Tôi nghĩ một cách hội nhập quốc tế hay nhất là nghiên cứu khoa học. Và, nghiên cứu phải đúng phương pháp và chuẩn mực quốc tế. Do đó, trong bài nói chuyện tôi sẽ cố gắng hết mình để thuyết phục rằng cần phải nâng cao tính định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội. Dù một bài nói chuyện như thế có thể đơn độc trong Hội thảo, nhưng như thế hoá ra lại có cái tốt của sự đơn độc.

Trên thế giới có hàng trăm tập san khoa học xã hội và bàng bạt trong những tập san này là phương pháp định lượng. Thử xem qua những tập san như American Journal of Sociology, American Socilogical Review, Journal of Asian Studies, Annual Review of Sociology, Human Ecology, Social Research, American Journal of Political Science, Psychometrika, Educational Measurements, v.v. chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều những công trình nghiên cứu định lượng. Ngược lại, các tập san KHXH Việt Nam thì gần như chẳng có nghiên cứu định lượng nào. Hoặc khi có thì phương pháp quá đơn giản hoặc chưa đúng chuẩn mực. Do đó, tôi nghĩ nhu cầu của phương pháp định lượng trong nghiên cứu KHXH ở nước ta rất lớn. Bài nói chuyện dưới đây sẽ cố gắng thuyết phục giới nghiên cứu KHXN ở Việt Nam nên chú ý đến các phương pháp định lượng mà tôi sẽ giới thiệu trong một workshop 5 ngày sau Hội thảo. Những phương pháp định lượnhg sẽ giúp cho giới nghiên cứu KHXH khám phá nhiều mối liên hệ thú vị. 
NVT
===
Khám phá trong nghiên cứu khoa học xã hội qua các phương pháp định lượng
Hai chữ khoa học trong khoa học xã hội có thể hiểu bằng nhiều nghĩa khác nhau, nhưng ở đây tôi muốn nói đến những khám phá tri thức mới có độ tin cậy và chính xác cao. Cách hiểu khoa học này thật ra xuất phát từ khoa học tự nhiên, nhưng cũng có thể áp dụng cho khoa học xã hội. Trong bài này, tôi sẽ bàn về việc ứng dụng khoa học thống kê (statistical science, chứ không phải đơn thuần thống kê học – statistics) như là một phương tiện để khám phá tri thức mới cho các nhà khoa học xã hội. 
Các dữ liệu từ nghiên cứu khoa học xã hội thường rất phức tạp, vì mang tính đa biến và đa chiều. Khám phá những cơ cấu và mối liên hệ giữa các yếu tố trong một nghiên cứu là một thách thức lớn cho các nhà khoa học xã hội. Tuy nhiên, những phát triển trong khoa học thống kê đã giúp cho việc khám phá dễ dàng hơn. Ứng dụng của khoa học thống kê trong khoa học xã hội có thể chia thành hai nhóm: thiết kế nghiên cứu và suy luận khoa học. Bất cứ công trình nghiên cứu nào cũng khởi đầu từ khâu thiết kế, và khoa học thống kê đóng góp vào việc (a) chọn mô hình nghiên cứu thích hợp và tối ưu cho câu hỏi nghiên cứu; (b) ước lượng cỡ mẫu cần thiết cho mô hình nghiên cứu; cách lấy mẫu sao cho đảm bảo tính đại diện một quần thể.
Phân tích dữ liệu trong khoa học xã hội có thể chia thành hai nhóm chính: mô tả và suy luận. Mỗi nhóm phân tích đều có sự đóng góp của khoa học thống kê. Đối với phân tích mô tả, các phương pháp “cổ điển” như kiểm định Ki bình phương (Chi-squared test), kiểm định t, kiểm định z có thể ứng dụng để đáp ứng những câu hỏi nghiên cứu đơn giản. Rất nhiều phương pháp phân tích suy luận (inferential statistics) có thể ứng dụng cho các nghiên cứu khoa học xã hội. Các phương pháp định lượng mang tính suy luận bao gồm các mô hình phân tích hai biến (bivariate analysis) và đa biến (multivariate analysis) là những phương pháp quan trọng hỗ trợ cho nhà nghiên cứu trong việc thẩm định những mối tương quan phức tạp trong khoa học xã hội. Những phương pháp phân tích đa biến như phân tích yếu tố (factor analysis) và phân tích cụm (cluster analysis) còn giúp cho nhà nghiên cứu giảm độ phức tạp của cơ cấu dữ liệu, và dẫn đến những khám phá mà các phương pháp phân tích đơn giản không thể nào phát hiện được. Những mô hình như hồi qui tuyến tính, hồi qui logistic, hồi qui Poisson, hồi qui Cox cung cấp những phương tiện định lượng rất quan trọng trong việc khám phá các yếu tố có ảnh hưởng đến một sự cố hay hiện tượng xã hội.
Trong vài năm gần đây, khoa học thống kê đã có những phát triển ngoạn mục, và những phát triển này cung cấp cho khoa học xã hội những phương pháp định lượng để có những khám phá mới. Những phát triển mới trong mô hình tuyến tính cho phép nhà nghiên cứu phân tích những dữ liệu thu thập theo thời gian (longitudinal research). Với sự phát triển của máy tính, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã có thể tiếp cận các phương pháp phân tích “hiện đại” như bootstrap và mô phỏng MCMC (Markov Chain Monte Carlo) mà trước đây chỉ dành cho các nhà khoa học thống kê chuyên nghiệp. Phương pháp MCMC cũng giúp cho các nhà khoa học xã hội có thể phân tích dữ liệu theo trường phái Bayes (Bayesian approach). Các phương pháp Bayes càng ngày càng trở nên hấp dẫn và quan trọng trong khoa học xã hội, vì các phương pháp này cho phép nhà nghiên cứu phát biểu về độ tin cậy của một giả thuyết khoa học dựa trên dữ liệu quan sát (thay vì phương pháp cổ điển chỉ cho phép nhà nghiên cứu phát biểu về dữ liệu quan sát trên cơ sở giả thuyết khoa học).
Ở nước ta, có một nghịch lí đáng chú ý: các nghiên cứu về khoa học xã hội hiện diện trên các tạp chí trong nước rất nhiều, nhưng lại xuất hiện rất ít trên các tạp chí khoa học quốc tế. Số liệu thống kê năm 2004 cho thấy trong số 8408 bài báo khoa học trong các tạp chí và kỉ yếu khoa học, có đến 4345 (hay 53%) là những bài báo liên quan đến khoa học xã hội. Tuy nhiên, trong năm 2004, con số bài báo khoa học xã hội trên các tạp chí khoa học quốc tế chưa quá con số 10 bài. Ngoài ra, phân tích của chúng tôi cho thấy trong thời gian 1996 – 2005, trong tổng số 3456 bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tạp chí quốc tế, chỉ có 69 bài (tức khoảng 2%) liên quan đến ngành khoa học xã hội. Do đó, tuy số lượng nghiên cứu khoa học xã hội ở nước ta cao hơn so với các ngành khoa học tự nhiên, nhưng đại đa số những nghiên cứu đó chỉ xuất hiện trên các tạp chí trong nước, và rất ít xuất hiện trên các tạp chí quốc tế.
Một trong những “nguyên nhân” cho sự hiện diện khiêm tốn của khoa học xã hội Việt Nam trên trường quốc tế là vấn đề phương pháp định lượng. Có thể nói rằng phần lớn những nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam chưa tận dụng những phương pháp khoa học (scientific method) và phương pháp thống kê trong việc thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu, và diễn giải dữ liệu. Một số nghiên cứu có sử dụng phương pháp thống kê, nhưng chưa hẳn có hệ thống và chưa thích hợp. Nhiều sai sót hiển nhiên về cách lấy mẫu, phân tích và suy luận từ dữ liệu có thể tìm thấy trong rất nhiều bài báo trong ngành khoa học xã hội. Những thiếu sót về phương pháp dẫn đến chất lượng nghiên cứu chưa được cao, và hệ quả là nhiều công trình khó có cơ hội để được công bố trên các tạp chí khoa học xã hội quốc tế.
Ở các nước tiên tiến, khoa học thống kê (statistical science) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển khoa học xã hội. Từ năm 1965, báo cáo Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội ở Anh (Social Science Research Council) nhấn mạnh rằng nếu không có thống kê học và toán học, thì khoa học xã hội không thể nào phát triển được. Do đó, khoa học xã hội ở nước ta cần đến khoa học thống kê để phát triển. Khoa học thống kê có thể giúp cho các nhà khoa học xã hội phân tích mô tả và phân tích suy luận, và dẫn đến những khám phá có ý nghĩa thực tế và giúp cho việc hoạch định các chính sách công hữu hiệu hơn. Trong y khoa có học thuyết y học thực chứng (evidence based medicine) mà theo đó thực hành y khoa phải dựa vào bằng chứng khoa học.  Trong lĩnh vực xã hội, khái niệm chính sách công thực chứng (evidence based public policy) vốn đã hình thành gần đây, với nguyên lí các chính sách nên dựa vào bằng chứng khoa học.  Bằng chứng khoa học đáng tin cậy nhất phải đúc kết từ nghiên cứu khoa học mang tính định lượng.  Do đó, nghiên cứu khoa học xã hội bằng phương pháp định lượng sẽ giúp ích trong việc định hình những chính sách công thực chứng ở nước ta.
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Phương pháp định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội

http://qmss.columbia.edu/files_qmss/imce_shared/QMSS_Logo_Final.jpgXin hân hạnh thông báo cùng các bạn quan tâm đến workshop rằng tôi đã soạn xong chương trình làm việc. Kèm theo đây là danh sách bài giảng trong workshop về “Phương pháp định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội”.


Bài giảng. Trong workshop sẽ có 30 bài giảng (xem danh sách dưới đây) chia thành 3 phần. Phần 1 là 22 bài liên quan đến lí thuyết, thiết kế nghiên cứu, và phân tích dữ liệu. Phần 2 là 4 bài giảng về R. Phần 3 gồm 4 bài giảng về cách viết và báo cáo kết quả nghiên cứu. Chương trình này dù chỉ là nhập môn nhưng rất tham vọng so với thời gian cho phép. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng hết mình làm cho workshop thoải mái, không quá căng thẳng và nhồi nhét. Bài giảng bằng tiếng Anh (để các bạn quen với thuật ngữ tiếng Anh), nhưng nói tiếng Việt. 
Thực hành. Ngoài ra, vì workshop đặt nặng thực hành nên chúng tôi cũng đã sắp xếp sẵn những dataset để học viên có thể phân tích. Cố nhiên, các học viên sẽ phân tích dưới sự hướng dẫn của các trợ giảng. Các bạn có thể download tất cả các datasets (dạng csv) trong file winrar dưới đây. Các datasets này sẽ được sử dụng trong workshop, nên các bạn phải lưu trữ trong máy tính cá nhân. Chúng tôi dự định chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ để thực hành và thảo luận. Chương trình thảo luận và thực hành cụ thể cho từng ngày sẽ được phát trước một ngày học.
Software. Một phần quan trọng trong workshop này là thực hành. Các bạn cần phải có chương trình R để phân tích dữ liệu. Có thể download R từ website sau đây: http://cran.ms.unimelb.edu.au/bin/windows/base/R-2.14.0-win.exe.
Ngoài ra, cần có những packages sau đây để phân tích: Hmisc, Design, MASS, car, psych, sampling, survey,gmodel. Tất cả các packages có thể download từ:http://cran.ms.unimelb.edu.au/web/packages/available_packages_by_name.html.
Dataset. Mỗi học viên sẽ được cấp một bộ câu hỏi (questionnaire) về xã hội và môi trường. Ngày đầu lớp học, mỗi học viên sẽ sử dụng questionnaire để thu thập dữ liệu, và dữ liệu sẽ được dùng cho phân tích. Tuy nhiên, chúng tôi đã thu thập một số dữ liệu sẵn cho phân tích. Những dữ liệu này có thể download từ trang web này (xem địa chỉ dưới đây). Dữ liệu được trữ trong file .csv và nén trong dạng winrar.
Tài liệu tham khảo. Những tài liệu sau đây sẽ được sử dụng như là tài liệu tham khảo trong workshop:
Phân tích số liệu và biểu đồ với R, của tôi (Nguyễn Văn Tuấn), nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật 2005. Có thể download bảng pdf từ trang web của Laboratoire de Génétique et Evolution des Maladies Infectieuses:
Đi vào nghiên cứu khoa học, cũng của tôi, do nhà xuất bản Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2011 ấn hành. Sách này hi vọng [chưa dám hứa] sẽ xuất bản trong tháng 12 và chúng tôi sẽ tặng mỗi học viên một quyển. Hơi tốn tiền một chút :-), nhưng chắc ban tổ chức sẽ ok.
An overview of psych package, của William Revelle, 2011. Có thể download từ website: http://cran.r-project.org/web/packages/psych/vignettes/overview.pdf.
R for multivariate analysis. Có thể download từ:https://netfiles.uiuc.edu/miguez/www/Teaching/MultivariateRGGobi.pdf.
Các bạn có thể download những tài liệu đó trước khi tham dự lớp học.
Bài giảng chính
Bài giảng
Nội dung
1
Lí thuyết và nghiên cứu xã hội (Theory and social research)
2
Câu hỏi nghiên cứu (research question)
3
Kĩ thuật chọn mẫu (sampling techniques)
4
Mô hình nghiên cứu KHXH (research designs)
5
Đạo đức khoa học (ethics)
6
Cách tính cỡ mẫu (sample size estimation)
7
Cách thiết kế bộ câu hỏi (questionnaire design)
8
Quản lí dữ liệu nghiên cứu (data management)
9
Phân tích khai thác dữ liệu (exploratory analysis)
10
Phân tích mô tả 1: biến liên tục (descriptive analysis 1: continuous variables)
11
Phân bố bình thường (normal distribution)
12
Khoảng tin cậy (confidence intervals)
13
Phân tích mô tả 2: biến phân loại (descriptive analysis 2: categorical variables)
14
Kiểm định giả thuyết (test of significance)
15
Suy luận thống kê (statistical inference)
16
Phân tích suy luận so sánh 2 nhóm 1: biến liên tục (comparing two groups 1: continuous variables)
17
Phân tích suy luận so sánh 2 nhóm 2: biến phân loại (comparing two groups 2: categorical variables)
18
Phân tích Ki bình phương (Chi squared analysis)
19
Phân tích tương quan giữa 2 biến (bivariate correlation analysis)
20
Mô hình hồi qui tuyến tính (simple linear regression model)
21
Suy luận từ mô hình hồi qui tuyến tính (inferences in simple linear regression model)
22
Phân tích phương sai (analysis of variance)

Bài giảng về R và viết báo cáo
Bài giảng
Nội dung
1
Giới thiệu R
2
Phân tích mô tả với R (phần 1)
3
Phân tích biểu đồ với R
4
Phân tích mô tả với R (phần 2)
5
Cách viết bài báo khoa học
6
Tại sao bài báo khoa học bị từ chối
7
Cách viết bài báo khoa học: Vấn đề tiếng Anh
8
Cách trình bài báo cáo khoa học trong hộu nghị

Chi tiết ghi danh / đăng kí: Trung tâm Đào tạo và Phát triển Nguồn Nhân lực. Địa chỉ: P. 514-516 Nhà Điều hành, Khu phố 6 P.Linh Trung Q. Thủ Đức TP.HCM. Liên lạc: Chị Linh 090 931 0886 Chị Ngân: 09388.46656. Website:http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=396
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Cách trình bày tốt trong hội nghị


http://www.powerpointbackgroundtemplates.net/images/powerpoint-presentation-tips.jpgThỉnh thoảng nhận được thư của các bạn từng theo học trong những workshop về “kĩ năng mềm” làm tôi … ấm lòng. Mấy lần trước, tôi đã chia sẻ với các bạn về những trường hợp mà học viên ứng dụng thành công những gì tôi hướng dẫn, hôm nay xin trích một thư của một học viên thành công, và cũng nhân cơ hội này trả lời ngắn cho em ấy luôn.


Email viết (trích):
Em là L, đã tham gia 2 workshop của Thầy tại Tp.HCM, những workshop của Thầy rất bổ ích và "đúng" vào thời điểm em đang cần. Sau workshop viết bài báo khoa học, em đã có 1 accepted paper, mới đây, workshop về trình bày báo cáo trong hội nghị, em có đặt câu hỏi cho thầy, lúc đó em đang băn khoăn có nên tham dự hội nghị KH & trình bày bài accepted paper của mình được không, lúc đó em cũng đang xin tài trợ kinh phí đi dự hội nghị từ NAFOSTED, bây giờ đã được chấp nhận (trong workshop em có hỏi Thầy về các tổ chức nào có tài trợ cho sinh viên ra nước ngoài tham dự hội nghị). Chỉ có điều họ sẽ chi trả sau khi em đi về, vé máy bay họ đã book cho em, em thấy cũng hơi rắc rối, chi phí tham dự conference, book hotel ...
Em viết email 1 là muốn cám ơn Thầy, hy vọng sau này có cơ hội học với Thầy vì Thầy chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm quý báu, 2 là xin hỏi Thầy kinh nghiệm để em trình bày tốt trong hội nghị, ngày mai là em bay rồi thưa Thầy, vì thời gian cấp bách, Nafosted chấp nhận cách vào đầu tuần này ( thứ 2), cuối tuần em đã bay, ít có thời gian chuẩn bị, nên em chưa thực hành tập nói gì nhiều ạ.
Em thường xuyên đọc trang web của Thầy, em nhớ câu: Làm gì thì làm, nhưng không được làm mất mặt người Việt Nam :)
Chúc Thầy sức khỏe.

Tôi thường đặt ra một mục tiêu cho mỗi workshop tôi làm là phải có outcome. Outcome ở đây có lẽ nên dịch là thành quả. Học viên sau khi xong khoá học phải có thành quả, như công bố được bài báo khoa học (đây là chỉ tiêu tham vọng nhất, nhưng tôi phải đặt ra). Trong quá khứ đã có nhiều em và đồng nghiệp làm được điều này và thế là nâng cao năng suất khoa học cho Việt Nam. Có em làm được chỉ nhờ đọc những bài viết trên web chứ không có điều kiện tham dự trực tiếp trong các workshop. Nói thật lòng, đó là những thành quả tôi lấy làm tự hào và là động cơ để tiếp tục làm những việc như thế này. Có lần tôi nói trong workshop về trình bày là mấy em bây giờ giỏi hơn tôi mấy chục năm trước, vì các em nói tiếng Anh một cách tự tin, biết thực hành đúng bài bản những gì được hướng dẫn. Đó là nhận xét chân tình, chứ không phải “ngoại giao”.   Đây là những người sẽ giúp Việt Nam hội nhập quốc tế về khoa học trong tương lai.
Em L hỏi cách nào để trình bày tốt. Tôi chỉ có thể khuyên nhanh như thế này:
1. Tìm hiểu khán giả trong hội nghị là ai. Nếu là hội nghị quốc tế thì chắc trong khán giả có người là bậc thầy cô của mình, có người cũng như mình (tức nghiên cứu sinh), nói chung là đa dạng, thì em nên tập trung vào nghiên cứu của mình. Cố tránh những slide mang tính lên lớp (vì mình chưa ở vị trí dạy thầy cô mình) hay những kiến thức kinh điển (vì sẽ làm cho người ta cười mình là trẻ con). Nên đi thẳng vào vấn đề, không nên loanh quanh làm mất thì giờ người khác.
2. Xác định “money slide”. Như tôi có nói trong workshop trước, mỗi bài nói chuyện trong hội nghị phải có cái gọi là money slide, tức là slide có dữ liệu quan trọng nhất, dữ liệu định hình cái nghiên cứu của mình. Đó là slide ăn tiền, slide mà khi họ về nhà vẫn còn nhớ đến mình.  Tất cả các slides khác phải được soạn để yểm trợ cho cái money slide.
3. Khi soạn slides, nhớ đến qui ước n x n. Mỗi slide (nếu text) chỉ nên có khoảng 5-6 dòng thôi, và mỗi dòng nên giới hạn 5-6 chữ. Điều chỉnh số chữ bằng cách chọn font size thích hợp. Nhớ chọn font không chân! Nhớ chọn màu cho thích hợp. Nếu phòng rộng thì chọn màu nền là xanh đậm và chữ trắng hay vàng; nếu phòng hẹp thì chọn màu nền là màu sáng (trắng) và chữ đậm. Nếu có thể, cố gắng dùng nhiều biểu đồ và hình ảnh thay vì dùng slides bằng chữ.
3. Thực hành. Nên nhớ mỗi slide chỉ có 1 phút là tối đa. Nếu người ta cho em 15 phút thì em nên có tối đa là 15 slides. Thực hành nói rất quan trọng. Em nên làm như sau:
  • Cách hay nhất là em soạn (viết ra) toàn bộ bài nói chuyện. Trong bài nói chuyện, em soạn luôn câu mởi đầu, và những câu quan trọng cho từng slide.
  • Soạn xong, em nên học thuộc lòng (nếu được), vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ nên học thuộc lòng cho … chắc ăn.
  • Thực hành nói: em đứng trước kiếng hay gì đó và thực hành nói, xem có đúng giờ không. Khi đã ok, em mời vài đồng nghiệp vào nghe em nói và đề nghị họ theo dõi giờ, theo dõi điệu bộ xem có ok không.
  • Không bao giờ chủ quan! Trước ngày trình bày, em nên thức sớm và thực hành (trước khi đi ăn sáng!) Ăn sáng xong thì thực hành khó lắm. Ngay trước khi trình bày em vào phòng Speaker (trong hội nghị quốc tế có những phòng dành cho speakers), xem lại slides xem có hình ảnh nào "trật đường rầy" hay những câu chữ nào cần thêm/bỏ, và thực hành một lần nữa.
  • Khi đã ok, em bỏ slide ra, và nghĩ đến tình huống bị cúp điện và em vẫn nói như phây! (Học thuộc lòng rồi, nên chuyện trục trặc kĩ thuật chẳng có vấn đề gì cả).
4. Tập nói. Khi nói, nên nhớ câu đầu là lúc nào cũng cám ơn ban tổ chức và khen thành phố mình đến dự một chút :-). Chẳng hạn như: Thank you, Mr chairman, for your kind introduction. Thank you the organizing committee for giving me an opportunity to come to this BEAUTIFUL CITY and present my work concerning [tựa đề bài báo cáo]. Vạn sự khởi đầu nan: câu mở đầu rất quan trọng. Nếu câu mở đầu trôi chảy, xác suất cao là bài nói chuyện sẽ suôn sẻ. Nếu thành phố em đến có một sự cố nào đó (như Bangkok bị bão lụt chẳng hạn) em nên nói một câu chia buồn với người ta.  Nói được như thế em sẽ gây cảm tình ở khán giả ngay!  Nếu em tự tin khả năng tiếng Anh của mình, có thể nói một câu pha trò để khán giả thức dậy. Dĩ nhiên là nếu chia buồn thì tuyệt đối không được pha trò. 
Khi chuyển từ slide này sang slide khác, em nên dùng nhiều kĩ thuật transition như có đề cập trong workshop.  Chẳng hạn như trước khi chuyển sang slide khác, em nói "In the next slide, I will show .." hoặc "Shown in the next slide is ..." và tay thì đã bấm, xong câu là slide hiện lên ngay.  Làm như thế bài nói chuyện của em sẽ trôi chảy, không đứt đoạn một cách buồn cười.  Khi thấy khán giả có người ngủ, em nói một câu vực họ dậy, như I would like to ask you to pay attention to this figure (nói lớn và nhấn mạnh), hoặc this slide is very important, because ..., hoặc This result is quite remarkable ... Nói bằng giọng nhấn mạnh, chậm nhưng chắc!
5. Câu hỏi. Khi nói xong, em nên có một câu mời gọi người ta đặt câu hỏi. Một cách nói đơn giản là: Thank you for your attention. I would be happy to discuss with you about any point that is not clear in my presentation. Không trốn tránh câu hỏi.  Trước khi trả lời, cám ơn người đặt câu hỏi (thank you for your interesting question). Nếu câu nào khó quá thì nói sẽ bàn thêm hay hỏi trong khán giả có ai biết thì trả lời hộ.  Nếu người hỏi muốn "kiếm chuyện" thì nên bình tĩnh và tỏ ra mình cao hơn họ bằng cách nói rằng "MY VIEW is that .... MY VIEW may not be consistent with yours, but it is consistent with evidence".  Nhấn mạnh là MY VIEW bằng cách nói chậm và lên giọng. Nếu còn ngoan cố hỏi nữa, thì em nói là chúng ta đồng ý là bất đồng ý kiến (we agree to disagree on this point, thank you).  
Nên nhớ là slide cuối cùng phải có cám ơn (acknowledgements). Cần nói thêm là ở VN tôi thấy người ta ít khi cám ơn ai, làm như tất cả dữ liệu là chỉ do họ khám phá ra! Em phải tỏ ra “văn minh” là cám ơn đồng nghiệp và bất cứ ai giúp mình làm được cái nghiên cứu. Ai đó cho tiền em đi dự hội nghị, em phải cám ơn người ta trong slide. NAFOSTED cho tiền thì phải cám ơn họ một cách trịnh trọng. Chẳng những trong slide mà còn phải nói rõ ràng. Cám ơn ban tổ chức đã cho em cơ hội trình bày (ví dụ: I also thank the organizing committee for giving me an opportunity to present my data here in this conference).
Đó là vài lời khuyên nhanh cho em và các bạn. Hi vọng và chúc các bạn một buổi trình bày thành công.
NVT
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Vài dòng phi lộ …

http://anminh.edu.vn/home/images/stories/2011/ThongBao.jpg
Xin hân hạnh báo đến bạn đọc xa gần rằng sau 4 tuần “bị bệnh” và điều trị, nguyenvantuan.net đã được hồi phục và trở lại bình thường. Lần này bệnh trạng khá nặng, bị nhiễm vi khuẩn nhiều quá, đến độ phải di cư khỏi chỗ cũ.  Nay thì mọi chuyện đã xong xuôi, tôi muốn có vài lời cám ơn tấm thịnh tình của các bạn.


Quả thật, khi gặp nạn mình mới gặp nhiều người bạn tốt. Trong thời gian website bị nhiễm virus (hay gì đó), có nhiều bạn đã viết thư muốn giúp tôi một tay. Có em lập hẳn một trang blog dự phòng cho tôi ở địa chỉ www.nvtuan.blogspot.com.  Trang này được thiết kế thật đẹp (và tôi rất thích), nên tôi sẽ dùng nó như là nơi để dự trữ bài viết.  Có em tự nguyện giúp về kĩ thuật. Bạn đọc quan tâm thì viết thư hỏi thăm.  Nhiều thư đọc cảm động lắm. Các bạn thật sự đã làm tôi nói theo tiếng Anh là moved.  Xin nhân dịp này một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn của tôi đến các bạn.
Trong số những email gửi hỏi thăm, có email này cảm động nhất: Email từ quang hung_90 <…@yahoo.com> viết:
Cảm ơn thầy về những bài giảng Thống kê thật bổ ích. Phải nói là tài liệu của thầy là tài liệu súc tích và dễ hiểu nhất trong các tài liệu về thống kê trên mạng mà em từng đọc. Em hiện là du học sinh bên Đức, em sang đây chưa được lâu, tiếng chưa vững nên vào giảng đường DH gặp môn thống kê gần như không hiểu gì hết càng ngày càng cảm thấy sợ hãi vifbooj môn này vì vậy em cố gắng tìm đọc những tài liệu bằng tiếng Việt về thống kê trên mạng nhưng đọc rất nhiều mà vẫn chưa vỡ ra vì cách giải thích quá trừu tượng và khó hiểu. Nhưng may thay em đã đọc được tài liệu của thầy,và nhờ đó em đã không còn sợ hãi về bộ môn này nữa. Cảm ơn thầy rất nhiều và chúc thầy sẽ có những bài giảng hay để có thể đến tận tay bạn đọc nhiều hơn.
Sunday, June 19, 2011 8:48 AM
”

Hồi nào đến giờ tôi tưởng trang web mình giúp về tiếng Anh, nhưng không ngờ cũng giúp về thống kê thống kiếc. Trong tương lai, tôi sẽ viết tiếp loạt bài về cách trình bày powerpoint. Còn các bài giảng và bàn luận về thống kê thì có thể xem bên trang www.statistics.vn mà các bạn bên ấy đang quản lí.  Nay mai, chúng tôi sẽ giới thiệu một trang khác của bạn bè cũng thú vị lắm (nhưng không nói trước :-)). 


Hiện nay, trang web đã phục hồi được phần lớn bài viết, nhưng vẫn còn vài bài có vấn đề.  Một số thì tôi vẫn giữ bên trang www.tuanvannguyen.blogspot.com.  Một số bài đường dẫn (links) hình như bị gãy, mà tôi chưa có dịp sửa lại. Mong các bạn thông cảm. Thôi nói dong dài như thế tưởng cũng đủ; bây giờ xin mời các bạn trở lại ghé thăm tệ xá thường xuyên.

Viết xong entry này tôi mới biết hôm nay là Ngày nhà báo Việt Nam (hay ngày Báo chí Cách mạng)! Hoàn toàn là một sự tình cờ, chứ không có chủ ý gì cả nhé.

NVT
21/6/2011
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Đường 9 đoạn và phản đối một bài báo khoa học

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/ea/Map-hoang-sa.gif
Mấy hôm nay, một số anh chị em ở nước ngoài xôn xao về một bài báo khoa học của một nhóm tác giả Trung Quốc công bố trên tập san Waste Management. Bài báo không có gì đáng chú ý nếu không có bản đồ với “đường lưỡi bò” 9 đoạn.  Hôm kia, tôi đã có một thư phản đối, và trước đó vài người bên Phần Lan, Pháp, Úc cũng phản đối. Chúng ta cần phải lên tiếng khi những thứ “rác” Trung Quốc như thế này xuất hiện trong kho tàng khoa học.


Bài báo có tựa đề là “Municipal solid waste source-separated collection in China: A comparative analysis” của Jun Tai, Weiqian Zhang , Yue Che, Di Feng, công bố trên tập san Waste Management 2011; 31:1673-1682.  Tập san này có impact factor 2.3, tức cũng kha khá.  Ngay sau khi công bố, một chuyên gia người Việt ở Pháp phát hiện bài báo có một sự bất thường.  Sự bất thường đó chính là bản đồ Trung Quốc có 9 đường đứt đoạn lưỡi bò (xem hình dưới đây).



Bản đồ trong bài báo có 9 đường đứt đoạn lưỡi bò. Chú ý tác giả viết sai tiếng Anh (đáng lẽ là Geographical location, nhưng họ viết Geological location). Thật ra, bài báo còn nhiều chỗ sai sót tiếng Anh khác nữa, sai rất Tàu. Hi vọng nay mai sẽ đem bài này lên bàn mổ ể làm ví dụ về cách viết bài báo khoa học. 

Lập tức, một số nhà khoa học gốc Việt viết thư lên ban biên tập và tổng biên tập của tập san Waste Management để phản đối.  Tôi tìm đọc bài báo và cũng đã có thư phản đối (trích dưới đây).

Tôi nghĩ chúng ta – các bạn và tôi – còn quan tâm đến đất nước thì phải có trách nhiệm lên tiếng trong những trường hợp như thế này.  Tập san khoa học là một diễn đàn, nhưng cũng là nơi lưu giữ chứng từ khoa học cho hậu thế.  Chúng ta đã thấy thua kém trong vụ chất độc da cam cũng chỉ vì không có bằng chứng trên các diễn đàn khoa học quốc tế.  Nay đến vấn để chủ quyền là cực kì quan trọng, chúng ta không thể nào lại thua một lần nữa.  Chúng ta không thể nào để những kẻ thù của chúng ta (Trung Quốc là kẻ thù của Việt Nam, TBT Lê Duẩn nói như thế, phải không?) lợi dụng diễn đàn khoa học để luồn một bản đồ như thế.  Do đó, tôi đề nghị các bạn nên viết một email gửi đến ông tổng biên tập để phản đối đường lưỡi bò vô lí này.
NVT

TB. Về chi tiết, các bạn có thể tìm thấy thông tin dưới đây:

Ban biên tập và địa chỉ của tập san Waster Management:
http://www.elsevier.com/wps/find/journaleditorialboard.cws_home/404/editorialboard

Tổng biên tập là:
Professor Raffaello Cossu 
IMAGE (Environmental Engineering) Department
Università degli Studi di Padova
Lungargine Rovetta 8, 35127
Padova, Italy
Email: wmeditorinchief@gmail.com



Về cách viết, các bạn có thể nương theo lá thư của tôi (dưới đây), hay viết ngắn gọn hơn là ủng hộ ý kiến của tôi.  Chẳng hạn như Gs Phan Thiện Nhân viết theo cách thứ hai như sau:

Dear Prof Cossu,

I would like to add my voice of concern to that of my colleague, Prof Tuan Nguyen (who has written to you), with reference to the subject paper. Although the referees may or may have not been aware of the current territorial dispute between different nations, and the opinions of the authors are their owns, once the paper is published, it then becomes a responsibility and/or liability of the editorial board, and I would like to invite you or your editorial board to publically make a statement about the scientific focus of the journal. I think you would agree with me that this matter really should be best left to the international law arena.

With my best regards,

Nhan Phan-Thien
Fellow of the Australian Academy of Science
Professor of Mechanical Engineering and BioEngineering
National University of Singapore 


Hay viết theo cách trình bày của tôi như sau.  Sẵn đây, tôi cũng chỉ các bạn kĩ năng viết một letter to the editor cho đúng và chuyên nghiệp. Dù sao tôi làm editor nên cũng biết mấy chuyện này và có thể chỉ các bạn trẻ (chứ không dám chỉ các bạn bậc thầy) cách viết.

Vào đầu lá thư, nên tự giới thiệu mình là ai, tên gì, làm ở đâu và chức danh.  Nên nhớ rằng đoạn đầu cũng là đoạn nói lên ý chính của lá thư (vì người phương Tây tuyên bố lí do ngay từ đoạn văn đầu chứ không phải đoạn cuối như người châu Á chúng ta):


Dear Professor Cossu,


My name is ABC, I am a researcher from the University of XYZ. I have recently been drawn to a paper by Tai et al (Waste Management 2011; 31:1673-1682) which I consider contains a serious error of fact.  In the paper, Tai and colleagues present a map of China (Figure 2) which includes a territorial sea encompassed by 9 dotted lines, commonly known as “the ox-tongue shaped zone” or the “U shaped zone”. Although the map is presented as fact, it is highly unscientific and could have serious implications to on-going disputes regarding the legal status of the zone.


Đoạn thứ hai là đoạn lí giải tại sao tác giả sai. Ở đây, tôi nói về lịch sử một chút, và chỉ ra rằng VN đã có tư cách chủ quyền hai đảo đó từ thế kỉ 15. Còn bọn kia (và sau này TQ) dành chủ quyền là không có cơ sở lịch sử. Sau đó quay lại vấn đề khoa học, chỉ ra rằng bọn tác giả Tàu không có reference về cái đường 9 đoạn, không có chứng từ khoa học, và như thế thì ... phi khoa học - unscientific. Bồi thêm một câu là incorrect - sai.  Hơi nặng một chút, nhưng cần thiết. :-)


The 9-dotted zone encircles the archipelagos of Paracels and Spratlys.  The archipelagos and the 9-dotted zone have been a subject of territorial dispute among Vietnam, the Philippines, Malaysia, Brunei, and recently China.  While Vietnam has exercised her sovereignty over the archipelagos as early as the 15th century, other countries (e.g., the Philippines, Malaysia, Brunei and China) have made certain territorial claims of the archipelagos.  In recent years, China has arbitrarily presented the U-shaped map and claimed it as her “historic water”!  However, there are neither historical evidence nor scientific data to support the claim.  Scientifically, it is impossible to locate the sea line, due largely to lack of coordinates.  The map is not recognized by any international organization.  Thus, the 9-dotted lines zone presented by Tai and colleagues is an error of fact. It is also scientifically incorrect.


Đoạn thứ ba là đoạn nói về ý nghĩa và tầm quan trọng. Trong đoạn này tôi chỉ ra rằng Trung Quốc đã từng sát hại (và tôi cố tình dùng chữ murdered chứ không phải killed – chỉ hành động của bọn tội phạm). Ngoài ra, nhấn mạnh đến chuyện hai tàu VN bị chúng khủng bố và sách nhiễu. Nói lên tầm quan trọng vì Mĩ cũng quan tâm. Đoạn này phải ngắn mà mạnh:  


This error has serious implications in international relations.  The 9-dotted lines zone claimed by China has sparked an on-going and heated dispute among concerned countries, and the dispute has intensified to a dangerous level.  In recent years, several Vietnamese fishermen working in the archipelagos have regularly been harassed and terrorized by Chinese naval vessels.  Even worse, some were arrested and murdered by people allegedly linked to the Chinese military.  As early as four weeks ago, two Vietnamese ships working on an oil exploring mission were harassed by Chinese patrol vessels who were intentionally snapping cables used by the Vietnamese ships.  The incidents and the dispute on the 9-dotted lines zone are so serious that the United States Congress has publicly expressed some concerns.  The US-based Center for Strategic and International Studies is organizing a conference on Maritime Security in the South China Sea (today and tomorrow) in Washington.  I would like to bring your attention to the implications that could be associated with the publication of the map presented by Tai and colleagues. 


Đoạn thứ tư là đoạn đề nghị cách giải quyết.  Viết nhẹ nhàng thôi, nhưng để họ “thấm”. Câu kế tiếp là câu xã giao, chờ nghe ông ta trả lời.


As an editor of a number of medical journals, I myself come across errors of fact in papers from time to time.  While most errors are simply oversights by authors, others are more or less systematic biases.  I consider that regardless of whether the error in the Tai et al’s paper was an oversight or a bias, it should be corrected -- for the benefit of science and scientific integrity.  Could I therefore take the liberty to suggest that you put out a correction in Waste Management as soon as practically possible. 


I do thank you for your attention, and I look forward to hearing from you soon.



Yours sincerely,
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Mekong - Cửu Long 2011: nhìn xa nửa thế kỉ tới (Bài 3)

http://www.celsias.com/media/uploads/admin/images1802116_untitled.JPG
Xin trân trọng giới thiệu bài thứ 3 trong loạt bài “Mekong - Cửu Long 2011 nhìn xa nửa thế kỉ tới” của Bs Ngô Thế Vinh.  Đây là loạt bài phác thảo các vấn đề và giải pháp để đương đầu với tình huống ĐBSCL sẽ ngập nước trong tương lai. Hôm nay là ngày khai mạc website mới, nên cũng có thể xem bài này là một lời chào đến các bạn đọc xa gần. NVT






MEKONG-CỬU LONG 2011 NHÌN XA NỬA THẾ KỶ TỚI [3]

TỪ CON ĐÊ BIỂN ĐA DỤNG NGĂN MẶN TỚI CÁC HỒ CHỨA NƯỚC NGỌT
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

“Nước trở nên quý, và càng quý hơn trong tương lai, trở thành ‘vàng xanh’ của Thế kỷ 21” “Water has become expensive, and it will be even more expensive in the future, which will make it the ‘blue gold’ of the 21st century”. Ricardo Petrella, 3/2000


“Mọi tuyên bố về các dự án đập thủy điện lớn, thì rõ ràng, hiển nhiên và chứng minh được là giả định và sai trái”. “For every claim to virtue made by the proponents of big dams, there is a clear-cut, factual and demonstrable refutation”. Elmer Peterson, Big Dam Fooliness, 1954

“Theo tôi, thiên nhiên thì vô cùng khắc nghiệt, và điều chúng ta có thể làm là  trị liệu chúng”. “Inmy view, nature is awful and what you do is cure it”. Camille Dagenais, Canadian dam engineering firm SNC, 1985 



Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
& VN2020 Mekong Group

NGÔ THẾ VINH


LỜI DẪN NHẬP: Đây là bài thứ ba trong số 3 bài viết về tương lai Đồng Bằng Sông Cửu Long “Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới”:

Bài thứ nhất, như một tổng quan, với nhận định: thủy điện vẫn là nguồn năng lượng rẻ nhất, do nhu cầu phát triển, khai thác thủy điện trên sông Mekong, cho dù mau hay chậm, thì đó vẫn là một tiến trình rất khó có thể đảo nghịch, nên cần có một kế hoạch vĩ mô đối đầu với hậu quả tích lũy của những con đập thượng nguồn cùng với biến đổi khí hậu. 

Bài thứ hai, giới thiệu về một phác thảo “Dự án Đê Biển Đa Dụng / Mekong Multipurpose Sea Dyke / MSD” như một bước đột phá , trước mắt làngăn không cho nước biển lấn sâu thêm vào vùng châu thổ và lâu dài là cứu Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL] không chìm dưới biển mặn khi biển dâng cao một mét do hâm nóng toàn cầu/ global warming, cùng với những lợi ích khác như tạo thêm vùng đất mới, cải thiện giao thông, nâng cao mức sống cư dân vùng châu thổ. (3)

Đây là bài viết thứ ba,đề cập tới nhu cầu xây dựng các hồ chứa nước ngọt từ hai vùng trũng thiên nhiên Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau nhằm giữ lại được phần  nước đổ xuống từ thượng nguồn và cả lượng nước mưa hàng năm, đáp ứng  nhu cầu khẩn thiết về nước uống, phục vụ canh tác và kỹ nghệcho ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL thay vì đổ phí ra Biển Đông qua các cửa sông. Quan trọng hơn thế nữa là bảo vệ được các tầng nước ngầm / underground aquifers ngăn đất sủi phèn đưa tới acít hóa toàn vùng đất đai ruộng vườn. 

Cả ba bài  Mekong-Cửu Long Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới đều mang tính cách “khái niệm/ conceptual” về một tương lai xa hơn nhiều thập niên; do đó bạn đọc có thể coi đây là “nguồn thông tin mở / open-ended informations”với các dữ kiện luôn luôn được bổ xung và cập nhật theo thời gian, với đóng góp từ nhiều nguồn trí tuệ, phù hợp với những biến động của cả thiên nhiên và con người, mà ở thời điểm 2011 chưa có thể có hết trong tầm dự liệu của người viết. 

Một ví dụ: trong bài viết 1, khi đề cập tới trường hợp nước biển dâng 1 mét, thì cho rằng 90% diện tích ĐBSCLsẽ chìm trong biển mặn (2), trong khi theo dự đoán của Giám đốc Viện Khí tượng Thủy văn và Môi trường Việt Nam Trần Thức thì  “Nếu mực nước biển dâng khoảng 1 mét, toàn thểĐồng Bằng Sông Cửu Long – tức 100% sẽ bị ngập mặn”; nhưng rồi theo ước tính trong bài nghiên cứu của hai Ks Ngô Minh Triết và Phạm Phan Long, dựa theo địa hình các vùng cao thấp, thì con số đưa ra dè dặt hơn: “Khi  nước biển dâng cao 1mét, thì 50% diện tích ĐBSCLsẽ chìm dưới mực nước biển và thêm 25% cũng sẽ trở thành vùng bão ngập/ storm surge zone”…

Cứu nguy hệ sinh thái của ĐBSCL là một cuộc hành trình ngàn dặm, nỗ lực của người viết trong ngót hai thập niên qua chỉ là một bước rất nhỏ như “giọt nước trong biển cả”của kho tàng trí tuệ dân tộc trên vùng đất định mệnh, trong suốt dòng lịch sử luôn luôn phải đấu tranh với mối hiểm họa đến từ phương Bắc và với cả thiên nhiênngày càng khắc nghiệt, để có thể sinh tồn.

ĐỊA LÝ DÂN CƯ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trong số 17 cửa sông của ĐBSCL, thì đã có bảy cửacủa hai con sông Tiền và sông Hậu, nước mặn theo các cửa sông ấycàng ngày càng lấn sâu vào vùng châu thổ [ 128 km, thời điểm 2010 ]. Theo ước tính của Viện Quy Hoạch Thủy Lợi Miền Nam, thì có đến 1.5  tỉ mét khối nước mặn đổ vào nội đồng mỗi ngày trong mùa nước kiệt, và con số còn tăng hơn  25% khi có triều dâng. (7)


Hình 1:Nước mặn ngày càng lấn sâu vào ĐBSCL, 38 km tới 128 km trên Sông Tiền từ 1996 tới 2010[Ref. 3]

Sau 1975, đã có bước đầu thực hiện xây đập ở các cửa sông để ngăn mặn, nhưng cũng để thấy rằng đây chỉ là giải pháp cầm cự, bởi vì khi mực nước biển tiếp tục dâng cao thì không phải chỉ từ các cửa sông, mà toàn vùng châu thổ sẽ chìm trong biển mặn. Do đó, một dự án vĩ mô về con đê biển đa dụng ngăn mặn cho toàn vùng châu thổ phải là một giải pháp dài hạn với tầm nhìn chiến lược. 

Cũng nên ghi lại ở đây cuộc trao đổi giữa phóng viênbáo National Geographic và Tổng Trưởng Thông Tin Tôn Thất Thiện [1968] . Peter White quan sát trên bản đồ,  rồi bằng phi cơ quân sựbay lượnvới cao độ khác nhau trên cácbãi biển xình lầy và trên những khu rừng tràm, nhưng rồianh chỉ thấy được 8 cửa sông thay vì 9. Anh tìmtới hỏi giáo sư Tôn Thất Thiện, người bạn tham vấn lâu năm về những vấn đề Việt Nam, cũng là Tổng Trưởng Thông Tin, ông Thiện cười, giải thích: “Thực sự chỉ có 8, nhưng đó không phải là con số hên; các con số hên là 7 hoặc 9, do đó chúng tôi phải tìm ra một cửa sông nhỏ khác nữa, rất hẹpchỉ non 10 dặm…Tôi mong anh không bất bình vì đã không tìm ra được cửa sông thứ 9 đó.” (8)


HAI VÙNG TRŨNG ĐỒNG THÁP MƯỜI VÀ ĐỒNG CÀ MAU 

Ngoài những hồ chứa nước dọc theo con đê biển MSD có chiều dài 600 Km (3), thì còn có hai vùng trũng thiên nhiên và là hai hồ chứa nước ngọt trong mùa nước nổi của ĐBSCL. Như một chu kỳ hàng năm,Tonle Sap là con sông duy nhất trên  lãnh thổ Cam Bốt chảy hai chiều theo theo hai mùa mưa nắng. Nhờ vậy mà diện tích Biển Hồ co dãn: là hồ cạn với diện tích 2,500 km2 trong Mùa Khô, nhưng từ tháng 5 đến tháng 9 khi bước sang Mùa Mưa, nước sông Mekong dâng cao, tạo sức ép khiến sông Tonle Sap phải đổi chiều, chảy ngược vào Biển Hồ làm nước hồ dâng cao từ 8 tới 10 mét và tràn bờ, và diện tích Biển Hồ tăng gấp 5 lần khoảng 12,000 km2. Những cánh đồng lũ / flooded forest của Biển Hồ là cái nôi nuôi dưỡng và tái sinh nguồn thực phẩm khổng lồ chủ yếu là cá, chiếm tới hơn 60% nguồn cá của Cam Bốt. Khi Mùa Mưa qua đi, khoảng tháng 11, cũng là ngày Hội Nước, con sông Tonle Sap lại xuôi chiều, để từ Quatre Bras nơi hội tụ của bốn nhánh sông, nguồn cá từ Biển Hồ theoMekong Hạ đổ vào sông Tiền và theo sông Bassac đổ vào sông Hậu, tràn vào hai hồ chứa thiên nhiên Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau, đàndi ngư này tăng trưởng nhanh chóng và đã từng là vựa cá trời cho cư dân ĐBSCL. 

Khác với con đê biển nằm ngoài đất liền, không đặt ra vấn đề phảithu mua đất, nhưng do hai hồ chứa nước ngọt nằm trongvùng châu thổ, nên sẽ có nhu cầu giải tỏa và tái định cư, bước đầu có thể khó khăn nhưngvì lợi ích lâu dài cho toàn vùng ĐBSCL và cho tương lai thế hệ con cháu họ, thêm vào đó nếu người dân được đối xử công bằng và bồi thường xứng đáng thì trở ngại này có thể  giải quyết với sự đồng thuận và hợp tác. 

Cần có một chính sách trong sáng / transparency, với chương trình đền bù thiệt hại xứng đáng , với kế hoạch di dân tái định cư hợp lý, để cùng hướng về mục đích chung, sẽ không có khó khăn để thuyết phục người nông dân ĐBSCL vốn sẵn lòng yêu vùng đất của họ, sẽ chấp nhận phần hy sinh cho một tương lai bền vững. 


NHỮNG BƯỚC KHỞI ĐẦU CỤ THỀ

1/ Ủy Ban Mekong Việt Nam thay vì bấy lâu tọa ngự nơi địa chỉ 12 Phố Hàng Tre Hà Nội thuộc châu thổ Sông Hồng, thì nay đúng là thời điểm nếu không là quá trễ để di dời về ĐBSCL vùng đất thấp. Rất biểu tượng, thuyền trưởng không thể chọn đứng trên bờ để hô hào thủy thủ hy sinh cứu nguy con tàu đắm. 

2/ Đại Học Cần Thơ  được mệnh danh là “Ngọn Hải Đăng Trí Tuệ” cho ĐBSCL nhưng câu hỏi đặt ra là liệu có còn triển vọng tồn tại để kỷ niệm 100 năm hay không khi mà trường sở nằm trên vùng đất thấp hơn mặt biển như hiện nay. Ai sẽ tìm câu giải đáp cho “vấn nạn mất còn” ấy nếu không phải là “think tank” từ Phân Khoa Sông Mekong  Đại Học Cần Thơ?Vai trò của Đại Học Cần Thơ với Phân Khoa Sông Mekong chưa bao giờ cấp thiết đến như vậy. Đây cũng là đề xuất của tác giả trong bài viết này cách đây hơn11 năm, cả với đề nghị từng bước cụ thể: (a) Xây dựng một thư viện chuyên ngành liên quan tới con sông Mekong và con sông kết nghĩa Mississippi;(b) Thiết lập ban giảng huấn, sẽ bao gồm thành phần cơ hữu của nhà trường, các chuyên gia của hai Ủy Hội Sông Mekong và Mississippi, cùng với nhóm Chuyên Viên Tham vấn Quốc tế từ Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc [UNEP/ United Nations Environment Programme], chuyên gia Hội Các Con Đập Thế Giới [WCD/ World Commission Dams], Mạng Lưới Sông Quốc tế [IRN/ International River Network]… Họ sẽ được mời như những Giáo Sư Thỉnh Giảng, cho Phân Khoa Sông Mekong. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn;(c) Tuyển sinh từ thành phần ưu tú không phải chỉ có Việt Nam mà cả từ các quốc gia trong lưu vực như Thái Lan, Lào, Cam Bốt và cả từ Vân Nam Trung Quốc, Miến Điện. Chương trình hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh và xây dựng cho “Chương Trình Phát Triển Xanh / Green Development”,hướng tới bảo vệ và phát triển hệ sinh thái của con sông Mekong. Lớp chuyên viên trẻ đầy năng động này cũng sẽ là mẫu số chung nối kết mở đường cho các bước hợp tác phát triển bền vững của 6 quốc gia trong toàn lưu vực sông Mekong. [6]

Hình 2: Ủy HộiSông Mekong Việt Nam, 12 Phố Hàng Tre, Hà Nội  nơi châu thổ Sông Hồng cách xa ĐBSCL hơn 1,600 km [Photo LN Hà]

Về phương diện chánh quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới “Tùy viên Môi sinh” đặc trách sông Mekong trong các Tòa Đại sứ và Sứ quán tại các quốc gia trong lưu vực: như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh Vân Nam, bốn tòa đại sứ Việt Nam ở Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho Phân Khoa sông Mekong và Bộ Bảo Vệ Môi Trường. 

Phải xem đây như một kế hoạch đầu tư dài hạn và ý nghĩa cho “Một Tinh Thần Sông Mekong” trong toàn bộ các kế hoạch hợp tác và phát triển vùng. Dĩ nhiên có một cái giá cao và xứng đáng phải trả để bảo vệ con Sông Mekong và sự sống còn của vùng ĐBSCL.

3/ Rừng Tràm Chắn Sóng: trong ngắn hạn, để  chống nạn sạt lở như hiện trạng mũi Cà Mau mất nhiều mẫu đất mỗi năm (927 ha / năm), cần ngay nỗ lực trồng và tái sinh những khu rừng tràm ven biển không chỉ để chắn sóng mà còn có khả năng giữ lại lượng phù sa, song song với giải pháp dài hạn hình thành một kế hoạch vĩ mô xây dựng đê biển đa dụng và hai hồ chứa nước ngọt để đương đầu với nước biển dâng do thay đổi khí hậu.

4/ Dòng Sông Thanh Khiết: những con sông của đất nước đang bị chính chúng ta góp phần hủy hoại. Không thể có được những dòng sông như mạch sống vừa mang tới thức ăn, vừa phải chuyên chở mọi chất phế thải. ĐBSCL, nơi nào cũng có bảng hiệu Làng Văn Hoá, nhưng các dòng sông và kinh rạchthì vẫn là nơi để hàng ngày người ta phóng uế và đổ xuống tất cả những rác rưởi. Ý niệm vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường sống lành mạnh, trong một thiên nhiên hài hòa,phải là kết quả của ý thức tập thểvà cả từ mỗi cá nhân. Thay đổi nếp sống với rất nhiều khiếm khuyết như hiện nay, cầnthời gian giáo dục hàng thập niên và cả biện pháp kỷ luật của một xã hội công dân, chứ không phải chỉ bằng những khẩu hiệu. 


PROS AND CONS VÀ CHỈ CÓ MỘT CHỌN LỰA

Từ sau 1975, Việt Nam đã thực hiện một số dự án xây dựng đêbiển trên đất liềndọc theo các tỉnh cận duyên như Sóc Trang, Bạc Liêu và Cà Mau, với hậu quả là gây tác hại cho môi trường bên trong đê, đất bị bọc phèn và nhiễm mặn gây tổn hại cho mùa màng, khiến sau đó chính dân chúng phải tự phátđi bửa đê, và mạnh hơn thế nữa chánh quyền địa phương phải cho gài mìn phá đê đểcư dân có thể làm ăn trồng trọt trở lại. Không phải chỉ có riêng ở ĐBSCL, những thất bại về các công trình đê điều là khá phổ quát ở Việt Nam như con đê biển Hải Hậu Nam Định miền Bắc, con đê Mũi Né Phan Thiết miền Trung…

Có thể nói hàng ngàn cây số đê điều ở Việt Nam tuy rất tốn kém nhưng thiếu điều nghiên nên đã thất bại.Nhưng còn dự án con Đê Biển Đa Dụng MSD thì sao? Qua hai bài đầu tiên, người viết đã nhận được một số hồi đáp từ bên trong cũng như ngoài nước, đồng thuận hay không nhưng vẫn là những tiếng nói thao thức với vận mệnh của đất nước nên rất đáng trân trọng.

_ Có ý kiến cho rằng việc “xây đê biển ĐBSCL còn tệ hơn việc xây dựng đường sắt cao tốc về mặt hiệu quả kinh tế. Với luận cứ là,chống lại tự nhiên cần phải được tính toán cẩn trọng, ĐBSCL đã từng có bài học đắt giá về thoát lũ ra biển Tây rồi. Thành công dễ thấy nhưng bài học về thất bại cho công trình biển trên thếgiới nhiều không kém”.Về điểm này, có lẽ cần có một từ ngữ chính xác hơn, thay vì “chống lại tự nhiên” thì nên được hiểu như “một thích nghi / adaptation” với những biến động của thiên nhiên để sống còn.

_ Một ý kiến kháccho rằng dự án MSD còn rất nhiều ẩn số, kể cả những điểm bất cập và tiêu cực chưa được soi sáng và lý giải. Như ước tính cần tới hơn 200 triệu mét khối hay hơn một tỉ tấn cát đá ximăng, phải cần tới những tầu vét nạo khổng lồ / huge dredgers, làm sao mà có được. Câu trả lời: đây là một kỹ thuật không phải chỉ khả thi mà đã được triển khai và ứng dụng trên thế giới, như với quần Đảo Dừa / Palm Islandscủa Dubai cần tới 1 tỉ rưỡi / 1.5 billions mét khối cát đá ximăng,  nghĩa là 7 lần hơn, cũng lấy từ đáy biển như với dự án MSD.

_ Cũng có một cách nhìn khác nữa tích cực hơn, cho rằng khi có người xây cái nhà hay cái cầu bị sập không có nghĩa là người khác sẽ không xây được cái nhà hay cái cầu an toàn. Học từ những kinh nghiệm thất bại của người khác để làm cho tốt hơn chứ không phải để kết luận là không làm được. Bất cứ một dự án xây dựng lớn nào muốn thành công thì cần phải có trình độ, lương tâm và cơ chế hữu hiệu.

_ Thêm một số ý kiến khác khá phổ quát của số người khi lần đầu tiên tiếp cận với dự án MSD hoặc nếu không là ngỡ ngàng vì tầm vóc dự án quá lớn chưa bao giờ nghĩ tới hoặcxa hơn nữa hoài nghi cho rằng liệu có tính khả thi / feasibility về kỹ thuật,nhân sự,tài chánh trong điều kiện của Việt Nam hiện nay hay không? Ngay cả Paul Stewart, phụ trách Mạng Lưới Môi Sinh“Từ Cửa Sông Tới Nguồn / Mouth to Source”, mặc dầu cho phổ biến bài viết cũng ngạc nhiên với phát biểu: “Chỉ có thể diễn tả đây là Dự án Vĩ mô mà tôi chưa bao giờ thấy trước đây. Các  bạn thì nghĩ sao?”http://mouthtosource.org/rivers/mekong/2011/05/29/mekong-sea-dyke-concept-paper/

_ Trong khi NhómKỹ Sư tham gia soạn thảo công trình Đê Biển Đa Dụng MSD ở California, thì cho rằng chi phí MSD sẽ không cao hơn dự án đường sắt cao tốc, và hiệu quả kinh tếthì không thể so với 20,000 km2 diện tích đất đai mầumỡ của ĐBSCLcó thể mất đi vì nước biển dâng cao, cũng không cao hơn chi phí để di tản từ 10đến 15 triệu dân, lo tái định cư cho họ và rồi còn nhập cảng gạo hàng năm nuôi sống họ và cả nước. (3) 

Qua kinh nghiệm và những thành tựu của thế giới, để thấy rằng dự án Đê biển Đa dụng MSD và các hồ chứa nước ngọt cho ĐBSCL là khả thi. Nhưng chúng ta cần một tư duy thế kỷ, xa hơn giới hạn đôi ba thế hệ, để thích nghi với một môi trường khắc nghiệt và thù nghịch với một tiến trình đảo nghịch: ruộng vườn biến thành biển mặn, thay vì  cảnh tượng biển xanh biến thành ruộng dâu.
Sau những thất bại, những chấn thương, chúng ta đứng trước hai tình huống: hoặc sợ hãi, co cụm lại, nghĩ rằng không còn làm gì hơn được; hoặc phân tích thất bại ấy, coi đó như bài học, để từ đó dám nghĩ khác đi, mà thành ngữ tiếng Anh gọi đó là khả năng “thinking outside the box”, hay một thứ Trial and Error / Nghiệm và Sai, là một phương pháp nghiên cứu/ giải quyết/ chỉnh sửa/ hay tạo hiểu biết về vấn đề đặt ra. Bài học không tự đến từ thất bại nhưng là do từ phân tích thất bại ấy, rồi biến cải, và thử nghiệm nữa. Đây là phương pháp không xa lạ gì trong giới khoa học thực nghiệm. [Wikipedia]


Hình 3:3,600 km2 bên trong con Đê Biển Đa Dụng MSD có tiềm năng là những hồ chứa nước và cả tạo thêm vùng đất mới [Ref. 3] 

NHỮNG BÀI HỌC THÀNH TỰU THẾ GIỚI

Những công trình kỳ vĩ trên thế giới và cả đứng vững với thời gian không phải là ít. Điều trước tiên học được từ những thành tựu ấy, đó là viễn kiến và hình thành một “ý tưởng lớn” cùng với ý chí và quyết tâm thực hiện, trong những nghịch cảnh và vị trí địa dư rất khác biệt.

_ Công trình Zuiderzee Vùng Đất Thấp đã có từ mấy thế kỷ trước với một hệ thống đê đập nhân tạo và thủy lợi nhằm giữ đất và ngăn mặn từ Bắc Hải, cộng thêm với hiệu quả ngăn lũ lụt, tạo thêm đất canh tác. Hiệp hội Kỹ sư Công chánh Mỹ / American Society of Civil Engineers đã vinh danh các công trình của Hòa Lan như một trong Bảy Kỳ quan của Thế giới.

_ Công trình Đê biển Seamangeummới đây của Hàn Quốc[ 04/2010, với một bức trường thành dọc theo bờ biển tiếp giáp với Hoàng Hải, chắn ngang hai cửa sông Dongjin và Manggyeong; được khởi công từ 1991 và hoàn tất 2010, như một kỳ công về xây dựng được coi như một trong những kỳ tích tạo một vùng đất mới / land reclamation lớn nhất, lớn hơn cả công trình Zuiderzee của Hòa Lan.

_  Công trình Đảo Dừa là một quần đảo nhân tạo như hình Bộ Ba Cây Dừa / The Palm Trilogy: Jumeirah, Jebel Ali, Deira củathị trấn Dubai / United Arab EmiratestrongVịnh Ba Tư / Persian Gulfđược hình thành với hàng tỉ mét khối cát đá do hai công ty Bỉ / Belgian và Hòa Lan / Dutch với những chuyên gia hàng đầu của thế giới để tạo nên vùng đất mới / land reclamation, và thêm cho Dubai 520 Km bờ biển. Công trình kiến trúc đảo và bờ biển nhân tạo này được coi như một Kỳ quan thứ Tám của thế giới.

_ Công trình Đập Chắn Singapore / Singapore’s Marina Barrage, do viễn kiến của nguyên Thủ Tướng Lý Quang Diệu / Lee Kuan Yew từ hơn hai thập niên trước. Là một đảo quốc, có vũ lượng cao 100 inches /năm, do đó phòng tránh  lũ lụt ngăn mặn, và dự trữ nước ngọt là vô cùng cần thiết. Đập Chắn đã hoàn tất [ 11/2008 ],góp phần tăng phẩm chất cuộc sống và phát triển kinh tế của đảo quốc này thay vì phụ thuộc nguồn nước nhập từ Mã Lai. Công trìnhđã được Viện Kỹ Sư Môi Trường Mỹ / AAEE / American Academy of  Environmental Engineersvinh danh với giải thưởng cao quý nhất 2009.


MISSISSIPPI BẠN ĐỒNG HÀNH VÀ TƯƠNG TÁC

Mississipp kết nghĩa với sông Mekong từ tháng 7, 2009; nay là người bạn đồng hành và tương tác của con sông MekongvàĐBSCL. Từ thập niên đầu của thế kỷ 21, Ủy Hội Sông Mississippi đã sớm có viễn kiến 200 năm bằngMột Cam kết Liên Thế hệ / An Intergenerational Commitment với 6 điểm tập trung vào cuộc sống hạnh phúc cho toàn cư dân lưu vực: [1] Bảo đảm cuộc sống phẩm chất có một không hai trên thế giới; [2] Tạo an toàn cho cuộc sống ven sông trong toàn lưu vực; [3] Thở không khí trong lành trong môi trường động và thực vật với thú săn bắn, câu cá và tiêu khiển trên sông; [4] Du lịch an toàn với giá phải chăng tớimọi nơi trong lưu vực; [5] Uống và xử dụng nguồn nước phong phú từ các dòng sông hay từ tầng nước ngầm trong lưu vực; [6]Quyền lựa chọn phẩm vật và nguồn tiếp liệu dồi dào được trồng, chế biến với giá thành rẻđược chuyên chở tới các địa phương và tới thị trường thế giới. (Mississippi River Commission, August 20, 2009)
Có thể vắn tắt 6 điểm ấy trong 5 mục tiêu chính, đó là: [a] An ninh quốc gia với chương trình giảm thiểu tổn thất lũ lụt và khô hạn; [b] Kiện toàn cơ sở hạ tầng và bảo đảmnguồn năng lượng; [c] Phát triển môi trường bền vững và giải trí cho cư dân; [d]  Cung cấp nguồn nước và phẩm chất nước; [e] Bảo đảm vận chuyển nông phẩm và hàng hóa trong lưu vực.

Cũng để thấy rằng viễn kiến nàyvẫn đúng và có thể ứng dụng cho cả 6 quốc gia Lưu Vực Lớn Sông Mekong / GMS/ Greater Mekong Subregion, trong đó có ĐBSCL. Điểm nhấn mạnh và nổi bật của “Viễn Kiến 200 Năm” Ủy Hội Sông Mississippi là luôn luôn đặt trọng tâm vào hạnh phúc của chính cư dân trong lưu vực và trách nhiệm liên đới với các thế hệ tương lai.


MSD VÀ NHỮNG HIỂM NGUY SINH TỬ

Phải thấy rằng có nhiều hơn một Lưỡi Gươm Damoclès treo trên dự án Công trình Đê Biển Đa Dụng và MSD sẽ là một dự án chết: [1] Nếu triển khai vội vàng không đạt tiêu chuẩn xây dựng quốc tế, và công trình èo uột ấy sẽ không thể đứng vững với hơn một cơn bão nhiệt đới đến từ Biển Đông hàng năm; [2] Nếu không có những hồ nước ngọt để bảo vệtầng nước ngầm đang suy xụp nhanh chóng như hiện nay, khiến đất sủi phèn với hậu quả là đổ ra hàng ngàn tấn acid sẽ phá hủy rộng rãi toàn vùng châu thổ; [3] Nếu không ngăn chặn đổ mọi rác rưởi, chất thải kỹ nghệ và cả phóng uế xuống dòng sông thì các hồ chứa nghiễm nhiên trở thành loại hố rác hố phân nặng mùi ô nhiễm; [4] Và tình huống tệ hại nhất, nếu xảy ra cơnđịa chấn làm vỡ con đập thượng nguồn, thì sẽ là cơn hồng thủy / một tsunami trên sông Mekong cuốn trôi mọi thứ dưới dòng và con đê biển không là một ngoại lệ. (3)

Với thay đổi khí hậu nước biển dâng, với dòng chảy xuống từ thượng nguồn giảm, với tầng nước ngầm ngày càng cạn kiệt làm đất sủi phèn, lún thêm mặt bằng ĐBSCL vốn đã thấp hơn mặt biển.Trước kịch bản ấy, chúng ta đứng trước hai tình huống: hoặc không làm gì để rồi đứng trước thảm cảnh một ĐBSCL chìm sâu dưới biển mặn, với tiêu vong cả một nền Văn Minh Miệt Vườn; hoặc bằng mọi giá đi tìm giải pháp cứu lấy vùng đất thiêng, cũng là không gian sinh tồn của cả các thế hệ tương lai.

Như một kết từ cho cả ba bài viết về “Tương lai Đồng Bằng Sông Cửu Long – Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới”: tất cả những đề xuất chỉ đang ở giai đoạn khái niệm / conceptual stagenên bạn đọc có thể coi đây như là “nguồn thông tin mở”cho mọi sáng kiến và các bước bổ xung tiếp theo cần thiết;  xa hơn nữa là những cuộc nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh để chuyển biến“Từ Khả Năng tới Hiện Thực / A Posse Ad Esse”.



NGÔ THẾ VINH
California 06/ 2011
[Source: www.vietecology.org]



THAM KHẢO:


1/ Mekong-Cửu Long Nhìn Xa Nửa Thế Kỳ Tới [1] Ngô Thế Vinh, 01/2011, Viet Ecology Foundation;http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/61

2/ Mekong-Cửu Long Nhìn Xa Nửa Thế Kỳ Tới [2]; Ngô Thế Vinh, 05/2011, Viet Ecology Foundation; http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/67 

3/ Đê Biển Chống Mặn Đồng bằng Sông Cửu Long, Ngô Minh Triết, S.E., Phạm Phan Long, P.E.
Viet Ecology Foundation 06/2011; http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/68

4/ Vùng Đất Ngập Đồng Tháp Mười, Trần Ngươn Phiêu, Thế Kỷ 21 số 219, tháng 7, 2007

5/ Bức Tranh Ảm Đạm của Nông Dân Miền Tây, Nguyễn Văn Tuấn 02/2011, http://nguyenvantuan.net/misc/9-misc/1181-ghi-chep-cuoi-nam-8-buc-tranh-am-dam-cua-nong-thon-mien-tay

6/ Đại Học Cần Thơ, Ngọn Hải Đăng Miền Tây;  Diễn Văn Ra Trường của Viện Đại Học Cần Thơ; Gs Đỗ Bá Khê  (19/12/1970); Đặc San Tiền Giang Hậu Giang, 2000

7/ Sống Chung Với Nước Biển Dâng; Tuổi Trẻ Online 28/08/2010; http://m.tuoitre.vn/tin-tuc/Chinh-tri-Xa-hoi/Khoa-hoc-Moi-truong/310,Song-chung-voi-nuoc-bien-dang.ttm 

8/ The Mekong, River of Terror and Hope, Peter White, National Geographic134, No.6, December 1968

9/ Possible Impacts of Saltwater Intrusion Floodgates in Vietnam’s Lower Mekong Delta; Ian White, Australian National University_Seminar on Environment and Development in Vietnam, Dec 6-7, 1996 http://coombs.anu.edu.au/~vern/env_dev/papers/pap07.html 


10/ Plan for China’s Water Crisis Spurs Concern; Edward Wong– North China  is Dying. The New York Times, June 1, 2011http://www.nytimes.com/2011/06/02/world/asia/02water.html?_r=1&hp
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác