Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Hội thảo “Khoa học xã hội thời hội nhập”

Thế là Hội thảo “Khoa học xã hội thời hội nhập” đã kết thúc có thể nói là tốt đẹp.  Hội thảo diễn ra trong 2 ngày 15/12 và 16/12. Ngày đầu là chương trình chính, ngày thứ hai là workshop và tham quan (tôi không đi tham quan, vì phải lo làm workshop).  Tôi có cơ hội quen biết với nhiều bạn bè, nên muốn ghi lại đây vài dòng nhật kí.


Hội thảo được khai mạc rất hoàng tráng tạ hội trường của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.  Đến tham dự phiên khai mạc có anh Phan Thanh Bình (GĐ Đại học Quốc gia TPHCM), ba giáo sư KHXH từ Trung Quốc (trong đó có một người từ ĐH Thanh Hoa), Gs Hồ Sỹ Quí (Hà Nội), Gs Ngô Văn Lệ (nguyên hiệu trưởng trường ĐH KHXH & NV), Gs Trần Văn Đoàn (Đại học Quốc gia Đài Loan), v.v. 

Đây là lần đầu tiên tôi tham dự hội nghị KHXH với tư cách là khách mời, nên học được rất nhiều điều hay ho và mới lạ.  Không giống như những hội nghị bên y khoa, trong hội nghị này có phiên khoáng đại và phiên chuyên đề. Phiên khoán đại có 5 bài giảng, và cứ mỗi bài giảng thì có một bài phản biện.  Mỗi bài giảng là 15 phút, và bài phản biện 5 phút.  Tôi được giao nhiệm vụ phản biện bài của Gs Trần Ngọc Thêm, và vì lần đầu tôi không biết làm sao, nên tôi soạn hẳn một bài bằng powerpoint slides để bình luận trong vòng 5 phút.  Có lẽ cách làm của tôi khác với mọi người khác, vì người ta chỉ đứng lên và nhận xét chứ không làm slides như tôi.  Tôi cũng được mời nói một bài (mà tôi đã trình bày trong một abstract).  Trong bài đó tôi có nói đến một con số rằn chỉ có <2% những bài báo của VN trên các tập san quốc tế có liên quan đến KHXH, trong khi đó trên 50% những bài báo trong nước thì liên quan đến KHXH.  Con số này có vẻ thu hút sự chú ý của báo chí, nên họ đăng nhiều chỗ (xem dưới đây 2 bài).  Thật ra, bài của tôi đặt ra nhiều vấn đề nóng bỏng về phương pháp nhưng báo chí có vẻ không thích những vấn đề đó; họ chỉ thích có cái gì làm bản tin.  Kể ra cũng là một kinh nghiệm báo chí thú vị!

Trong mỗi phiên chuyên đề, cũng có 2-3 báo cáo, nhưng không có phản biện mà chỉ có vấn đáp thông thường.  Tôi được vinh dạnh điều hành một phiên cùng với chị Kim Chuyên.  Trong phiên chuyên đề này, tôi gặp chị Từ Huy nói về bài giảng trong đại học rất thú vị và gây ra nhiều thảo luận nhất.  Đây là lần đầu tiên tôi gặp chị ấy dù đã đọc nhiều bài của chị ấy từ lâu, và lần gặp này để lại nhiều ấn tượng đẹp.  Đó là một người dân Huế, ăn nói năng nhẹ nhàng nhưng hàm chứa một sự dứt khoát không khoan nhượng, có kiến thức rộng, và có nhiều ý tưởng hay. 

Phiên chuyên đề này có nhiều ý tưởng và bình luận của nhiều người khác làm tôi … giật mình.  Chẳng hạn như có ý kiến của một giáo sư nói thẳng rằng VN chúng ta rất khó làm nghiên cứu KHXH, bởi vì đảng viên phải nói, làm và viết theo nghị quyết của Đảng, và thế thì làm sao có tư duy hay ý tưởng độc lập được.  Lại có ý kiến nói thẳng rằng VN chưa có một nền KHXH đúng nghĩa!  Tôi thì chỉ biết lắng nghe và theo dõi tranh luận.  

Trong hội thảo này tôi có dịp gặp các giáo sư Trung Quốc. Tôi thấy họ tham dự rất nghiêm túc, lắng nghe và ghi chép cẩn thận.  Họ rất lịch sự (chứ không thô lỗ như báo chí phản ảnh trong các hội nghị khác).  Họ không biết nói tiếng Anh, chẳng biết tiếng Việt, nên phải có một em nghiên cứu sinh Việt Nam làm phiên dịch.  Em này tên là Thơ, rất giỏi tiếng Hoa và tiếng Anh, nói tiếng Hoa mà tôi cứ tưởng em là … người Hoa!  Các giáo sư Trung Quốc tỏ ra ngạc nhiên là họ biết VN còn quá ít, vì khi qua hội thảo này họ mới biết VN có nhiều nét văn hoá khác với Tàu!  Có ý kiến nói về giả thuyết Kinh Dịch khởi nguồn từ phương Nam, và một ông giáo sư TQ là giám đốc trung tâm nghiên cứu Kinh Dịch nói rằng ông cũng biết giả thuyết đó và rất thú vị khi học thêm những dữ liệu và lí giải từ các nước khác, kể cả Việt Nam.  Họ còn nói rằng những vấn đề KHXH mà VN đang gặp phải hiện nay cũng chính là những gì Trung Quôc đã đương đầu 20 năm trước.  Tôi rất ấn tượng khi thấy họ phát biểu (bằng tiếng Hoa và qua thông dịch) rất “quốc tế”, rất ngoại giao và học thuật.  Thế mới biết không phải giáo sư TQ nào cũng thô lỗ như thấy trong các hội nghị về biển Đông. 

Nói tóm lại, tôi đã có một buổi “sinh hoạt” học thuật thú vị với tư cách và khách mời.  Điều làm tôi phấn chấn là có dịp chia sẻ những kinh nghiệm về phương pháp với các bạn nghiên cứu sinh trẻ.   Hi vọng rằng hội thảo sẽ còn tiếp tục trong tương lai để trở thành một diễn đàn về KHXH có uy tín ở Việt Nam.

NVT

===


Khoa học xã hội không phát triển được vì bảo thủ

“Khoa học xã hội (KHXH) Việt Nam còn khép kín, chưa thật sự phát triển, mang nặng tư tưởng tự kỷ, ỷ lại.

Trước các ý tưởng, lý thuyết của KHXH phương Tây, chúng ta thường ít đặt vấn đề nghiên cứu, trao đổi, tranh luận một cách nghiêm túc và khoa học. Chính chúng ta đã dựng nên một hàng rào về nhận thức, điều đó làm KHXH khó thể phát triển như một ngành khoa học thật sự”. PGS-TS Phan Thanh Bình, Giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM, đã nhận định như trên tại hội thảo khoa học quốc tế Khoa học xã hội thời hội nhập do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hôm qua (15-12) với sự tham dự của nhiều nhà khoa học Việt Nam, Úc, Trung Quốc và Đài Loan.
GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐH Quốc gia TP.HCM, chỉ ra rằng do KHXH có tính phổ biến nên rất hay bị coi thường, xem nhẹ tới mức bất công. Sự coi thường này dẫn đến nhiều hệ lụy, đó là tình trạng bình dân hóa, tầm thường hóa và chính trị hóa KHXH.
Nhiều nhà khoa học cho rằng chúng ta đang thiếu đội ngũ có trình độ chuyên môn cao và sự hạn chế về ngoại ngữ làm cho cán bộ giảng viên thiếu tự tin trong các hoạt động hợp tác quốc tế. GS-TS Nguyễn Văn Tuấn, ĐH New South Wales (Úc), dẫn chứng các nghiên cứu có giá trị về KHXH xuất hiện rất nhiều trên các tạp chí trong nước nhưng lại rất ít công bố trên các tạp chí quốc tế cũng là do trình độ tiếng Anh của các nhà nghiên cứu còn quá kém. Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên - Trung tâm Nghiên cứu kinh tế miền Nam, lực cản hội nhập của KHXH là do cơ chế áp đặt, bảo thủ, rất ít đề cập và tìm ra nguyên nhân của những sai lầm, cũng như ít sử dụng công cụ điều tra xã hội học và trưng cầu ý dân.
Để góp phần vực dậy KHXH, PGS-TS Phan Thanh Bình cho hay ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ cố gắng tối đa để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các ngành KHXH phát triển, khẳng định vai trò và trách nhiệm lớn lao của KHXH đối với đất nước và thế giới. Và để làm được điều này, các nhà khoa học cần nỗ lực học tập các phương pháp nghiên cứu tiên tiến của KHXH thế giới, vượt qua tính bảo thủ, sức ì của những quan điểm, thói quen cũ kỹ, thái độ giáo điều và tư tưởng ỷ lại.
Q.DŨNG



VN chỉ có 2% bài báo về khoa học xã hội trên tạp chí thế giới
16/12/2011 16:17

Tại hội thảo khoa học quốc tế “Khoa học xã hội thời hội nhập” diễn ra tại Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQG TP.HCM) ngày 15.12, GS-TS Nguyễn Văn Tuấn (Trường ĐH New South Wales, Úc) nói: “Một điều rất nghịch lý ở Việt Nam là các nghiên cứu về khoa học xã hội hiện diện trên các tạp chí trong nước rất nhiều nhưng lại xuất hiện rất ít trên các tạp chí khoa học quốc tế. Ví dụ, năm 2004 có tới 8.408 bài báo khoa học được đăng trên tạp chí và kỷ yếu trong nước thì có đến 4.345 bài về khoa học xã hội. Trong đó chỉ chưa tới 10 bài về khoa học xã hội được đăng trên tạp chí khoa học quốc tế. Thống kê giai đoạn 1996 - 2005 cho thấy, trong tổng số 3.456 bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tạp chí quốc tế thì chỉ có 69 bài (chiếm khoảng 2%) liên quan đến khoa học xã hội”.
Hà Ánh
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

Thông báo website nguyenvantuan.net tạm đóng cửa

Xin kính báo cùng các bạn website nguyenvantuan.net phải dừng trong một thời gian (chưa biết bao lâu), vì bị đánh nặng quá. 

Hiện nay nếu các bạn truy cập vào trang web sẽ có dòng chữ “This Account Has Been Suspended”.  Lí do là mỗi lần trang web mở ra thì bị tấn công, làm ảnh hưởng đến lưu lượng giao thông của server.  Quản lí server mới gửi một email báo cho biết như thế:  

“Server is currently running under low and stable load but I suspect that it will start overloading as soon as account nguyenvantuan.net is unsuspended. Basically website nguyenvantuan.net is taking too much traffic and VPS doesn't have enough hardware resources to handle all those connections on Apache service. I suggest that you consider upgrading to stronger VPS plan or dedicated server to resolve this issue.”

Tạm thời tôi sẽ chuyển qua trang blog www.tuanvannguyen.blogspot.com.

NVT
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

Thắng lợi mới: Lá thư trên Science phản đối “bản đồ đường lưỡi bò”

 http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/05/13/090513085915_south_china-sea_bbc466.gifXin hân hạnh giới thiệu cùng các bạn một thành quả trong việc đấu tranh chống bản đồ đường lưỡi bò (ĐLB). Đây là lá thư của một nhóm nhà khoa học trong và ngoài nước, qua sự điều phối của Gs Phạm Quang Tuấn (anh "bạn già" của tôi), gửi cho Tập san Science để phản đối tập san này đã đăng bản đồ ĐLB. Tôi cũng có một lá thư cho Science, nhưng họ chưa chịu đăng. Trước mắt xin giới thiệu lá thư của anh Phạm Quang Tuấn và bản (tạm) dịch của tôi.

Câu chuyện bắt đầu từ bài tổng quan về dân số và địa lí của X. Peng đăng trên Science vào ngàu 29/7/2011. Trong bài báo đó có in bản đồ của Trung Quốc và chèn vào bản đồ ĐLB. Tập san Science là loại tập san khoa học rất danh tiếng, có lẽ chỉ đứng sau Nature của Anh. Vì thế, sự kiện một bản đồ phi pháp như thế xuất hiện trênScience rất đáng để chúng ta – bất cứ người Việt nào – quan tâm. Nhiều nhóm viết thư phản đối. Trong đó có anh Phạm Quang Tuấn (giáo sư hoá học, Đại học New South Wales) và tôi viết thư phản đối. Lá thư của nhóm anh Tuấn gửi trước lá thư của tôi vài tuần. 
Sau vài tuần gửi đi, Science trả lời rằng họ sẽ không đăng lá thư của chúng tôi. Thay vào đó, họ đăng một đính chính chung chung rằng Science không nghiêng về phe nào trong tranh chấp! Chúng tôi không chấp nhận kiểu trả lời đó. Anh Phạm Quang Tuấn viết thư phàn nàn và “đấu tranh” đến cùng, và sau vài trao đổi Science đồng ý công bố lá thư trên bản điện tử (nguyên văn lá thư có thể xem dưới đây). Khi tôi viết thư phàn nàn, Science cũng chỉ trả lời chung chung rằng họ đã đính chính. Từng làm editor nên tôi cũng biết “luật chơi” chút ít, tôi gọi điện thoại thẳng cho ban biên tập, nhưng chẳng gặp ai; thay vào đó người thư kí toà soạn nói sẽ chuyển quan tâm của tôi cho ban biên tập. Mấy tuần qua vì quá bận bịu việc hội nghị nên tôi không theo đuổi sự việc.
Nhưng may mắn thay, Science đã công bố lá thư của nhóm anh Phạm Quang Tuấn. Một giáo sư bên Pháp nhận xét rằng “Science phải đăng thư này là một thắng lợi cho người Việt và cho cả cộng đồng khoa học quốc tế, theo tôi.” Tôi cũng nghĩ thế. Tôi cho đó là một thắng lợi (ghét dùng chữ này, nhưng sự thật là khó tìm chữ nào hay hơn) cho cộng đồng khoa học Việt Nam. Lá thư là một chứng từ cho thấy giới khoa học Việt Nam không chấp nhận bản đồ ĐLB. Chính quyền Trung Quốc thường rêu rao rằng từ ngày họ công bố bản đồ ĐLB không ai phản đối, và đó là một sự đồng thuận! Dù biết rằng đó là lí luận trẻ con, nhưng khổ nỗi trong giới cầm quyền TQ có quá nhiều người chưa trưởng thành như thế. Do đó, lá thư này còn là một minh chứng cho thấy bản đồ đó không được người Việt Nam chấp nhận, bản đồ đó sai, và bây giờ thì cả thế giới đều biết.
Xin chúc mừng các bạn đã làm nên một việc rất có ý nghĩa. Đó là món quà quí báu cuối năm cho quê nhà.
NVT
Có thể xem thêm những bài dưới đây:
====
Concern over the South China Sea
Tuan Quang Pham Liem Nguyen, Minh Khanh Nguyen, Tien Khoa Dao, Anh Tuan Kiet Hoang, Quang Thiep Lam, Suan Li Mai, Dang Hung Nguyen, Duc Hiep Nguyen, Van Hieu Nguyen, Luong Quang Nguyen, Thanh Van Tran, Duy-Thoai Pham
School of Chemical Engineering, University of New South Wales, Sydney, NSW 2166, Australia
In "China's demographic history and future challenges" (special section on Population, Review, X. Peng, 29 July 2011, p. 581), the maps of China show a U-shaped curve enclosing most of the South China Sea and its islands (the Paracels and Spratlys), clearly implying that the colored area within the curve belongs to China. However, these islands are subject to territorial disputes between China, Vietnam, the Philippines, Malaysia, and Taiwan. To show these islands unambiguously as Chinese territory is therefore questionable, especially when they are almost uninhabited and irrelevant to the population study in the Review.
The U-shaped curve in the map is even less justifiable. It appears only in Chinese maps and has been claimed by Chinese authors to represent China's traditional maritime boundaries (1). It was used officially by China (2) to claim "sovereign rights and jurisdiction" over the resources of the South China Sea. Wherever it appears, such as in Figure 1 from (2), this curve blatantly infringes other countries' 200–nautical-mile exclusive economic zones (EEZs) as recognized by international law (3). It extends beyond the mid-line between the disputed islands and other countries' coastlines, and thus constitutes a much wider claim than the waters associated with these islands.
China's unilateral claim over vast expanses of ocean is unprecedented in world history and violates the United Nations Law of the Sea (3), which all nations surrounding the South China Sea, including China, have ratified. That China pushes this claim seriously is not in doubt, as evidenced by recent incidents in which Chinese vessels harassed Vietnamese oil exploration ships well inside Vietnam's EEZ (4).
No other nation recognizes China's U-shaped maritime border. Indonesia and the Philippines have officially expressed concern (5, 6). The U.S. Senate passed a unanimous resolution deploring China's actions (7). There is no justification for such a controversial, and, in terms of international law, illegal feature in a scholarly paper. One can only hope that its presence was not due to political pressure.
Tuan Quang Pham
School of Chemical Engineering, University of New South Wales, Sydney, NSW 2166, Australia.
Liem Nguyen, Minh Khanh Nguyen
Case Western Reserve University, Cleveland, OH 44106, USA.
Tien Khoa Dao
Institute for Nuclear Science and Technology, Ha Noi, Vietnam.
Anh Tuan Kiet Hoang
Commissariat à l'Energie Atomique et aux Energie, Cadarache 13108, France.
Quang Thiep Lam
Thang Long University, Hanoi, Vietnam.
Suan Li Mai
Institute of Physics, Polish Academy of Sciences, 02-666 Warsaw, Poland.
Dang Hung Nguyen
University of Liege, 4000 Liege, Belgium.
Duc Hiep Nguyen
NSW Office of Environment and Heritage, Sydney, NSW 1232, Australia.
Van Hieu Nguyen
University of Technology and Management, Hanoi, Vietnam.
Luong Quang Nguyen
Commissariat à l'Energie Atomique et aux Energie, 91191 Saclay, France.
Thanh Van Tran
Université Paris-Sud, 91405 Orsay, France.
Duy-Thoai Pham
Charité University Medicine Berlin, Berlin, Germany.
References
1. J. Li, D. Li, Ocean Dev. Int. Law 34, 287 (2003).
2. China's Communication to the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), 7 May 2009; www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf.
3. United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS); www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm.
4. "Vietnam says China fishing boat rams research ship," The Straights Times, 9 June 2011; www.straitstimes.com/BreakingNews/SEAsia/Story/STIStory_678024.html.
5. Indonesia's Communication to the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), 8 July 2010; www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_vnm_e.pdf.
6. The Philippines's Communication to the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), 5 April 2011; www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.
7. Sen. J. Webb, "U.S. Senate unanimously 'deplores' China's use of force in South China Sea," 27 June 2011;http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/06-27-2011.cfm.
Conflict of Interest:
None declared
====
Bản dịch (tôi tạm dịch nhanh trước khi làm chuyện khác):
Quan tâm về biển Đông
Tuan Quang Pham Liem Nguyen, Minh Khanh Nguyen, Tien Khoa Dao, Anh Tuan Kiet Hoang, Quang Thiep Lam, Suan Li Mai, Dang Hung Nguyen, Duc Hiep Nguyen, Van Hieu Nguyen, Luong Quang Nguyen, Thanh Van Tran, Duy-Thoai Pham
School of Chemical Engineering, University of New South Wales, Sydney, NSW 2166, Australia
Trong bài "Lịch sử dân số và thách thức tương lai của Trung Quốc" (của tác giả X. Peng, trên đặc chương về dân số, số ra ngày 29/7/2011, trang 581), có in bản đồ Trung Quốc với một đường cong hình chữ U bao trùm phần lớn biển Đông và các hòn đảo trong vùng (Hoàng Sa và Trường Sa), với hàm ý rõ ràng rằng khu vực tô màu bao bọc bởi đường cong đó thuộc về Trung Quốc. Tuy nhiên, những hòn đảo này còn đang trong vòng tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, và Đài Loan. Công bố bản đồ hình chữ U như là một cách xác quyết rằng đó là lãnh hải của Trung Quốc là đáng nghi ngờ, đặc biệt trong điều kiện các đảo đó hầu như không có cư dân.
Càng khó biện minh hơn sự hiện diện của bản đồ hình chữ U trong bản đồ của Trung Quốc. Bản đồ hình chữ U chỉ xuất hiện trong các bản đồ ở Trung Quốc, và các tác giả Trung Quốc thường nói rằng bản đồ đường hình chữ U thể hiện lãnh hải truyền thống của Trung Quốc (1). Đường hình chữ U được Trung Quốc sử dụng chính thức (2) để ra yêu sách "chủ quyền và tài phán quyền" về tài nguyên thiên nhiên trong vùng biển Đông. Bất cứ nơi nào có bản đồ hình chữ U, như trong biểu đồ số 1 bài báo (2), bản đồ đó vi phạm một cách trắng trợn đặc quyền kinh tế trong giới hạn 200 hải lí được luật pháp quốc tế công nhận (EEZs) (3). Bản đồ đó còn vượt ra lằn ranh giữa các hòn đảo còn trong vòng tranh chấp và bờ biển của các quốc gia khác, và do đó tạo ra một yêu sách rộng lớn hơn vùng biển liên quan đến những hòn đảo đó.
Yêu sách của Trung Quốc trên một vùng biển rộng như thế là một đòi hỏi chưa từng có trong lịch sử thế giới, và vi phạm luật biển của Liên hiệp quốc (3), vốn được các quốc gia trong vùng biển Đông phê chuẩn. Những va chạm gần đây khi tàu Trung Quốc sách nhiễu tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam là một chứng cứ cho thấy Trung Quốc thật sự mong muốn yêu sách của họ thành hiện thực.
Không một quốc gia nào (ngoài Trung Quốc) công nhận bản đồ hình chữ U. Nam Dương và Phi Luật Tân đã chính thức ra tuyên bố quan tâm (5, 6). Thượng viện Mĩ cũng thông qua một nghị quyết lên án hành động của Trung Quốc (7). Chẳng có lí do gì để chèn bản đồ còn trong vòng tranh cãi đó vào một bài báo học thuật (của Peng), và đứng trên phương diện luật pháp quốc tế, đó là một bản đồ phi pháp. Hi vọng rằng sự hiện diện của bản đồ đó không phải do một áp lực chính trị.
Phạm Quang Tuấn 
School of Chemical Engineering, University of New South Wales, Sydney, NSW 2166, Australia.
Nguyễn Liêm, Nguyễn Minh Khánh 
Case Western Reserve University, Cleveland, OH 44106, USA.
Đào Tiến Khoa
Institute for Nuclear Science and Technology, Ha Noi, Vietnam.
Hoàng Anh Tuấn Kiệt  
Commissariat à l'Energie Atomique et aux Energie, Cadarache 13108, France.
Lâm Quang Thiệp
Thang Long University, Hanoi, Vietnam.
Mai Xuân Lý  
Institute of Physics, Polish Academy of Sciences, 02-666 Warsaw, Poland.
Nguyễn Đăng Hưng 
University of Liege, 4000 Liege, Belgium.
Nguyễn Đức Hiệp 
NSW Office of Environment and Heritage, Sydney, NSW 1232, Australia.
Nguyễn Văn Hiệu 
University of Technology and Management, Hanoi, Vietnam.
Nguyễn Lương Quang 
Commissariat à l'Energie Atomique et aux Energie, 91191 Saclay, France.
Trần Thanh Vân 
Université Paris-Sud, 91405 Orsay, France.
Phạm Duy Thoại 
Charité University Medicine Berlin, Berlin, Germany.
References
1. J. Li, D. Li, Ocean Dev. Int. Law 34, 287 (2003).
2. China's Communication to the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), 7 May 2009; www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf.
3. United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS); www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm.
4. "Vietnam says China fishing boat rams research ship," The Straights Times, 9 June 2011; www.straitstimes.com/BreakingNews/SEAsia/Story/STIStory_678024.html.
5. Indonesia's Communication to the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), 8 July 2010; www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_vnm_e.pdf.
6. The Philippines's Communication to the Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), 5 April 2011; www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.
7. Sen. J. Webb, "U.S. Senate unanimously 'deplores' China's use of force in South China Sea," 27 June 2011;http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/06-27-2011.cfm.
Conflict of Interest:
None declared
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Seminar về cách viết và trình bày báo cáo khoa học

http://shop.mja.com.au/images/ClinicalTrials.JPGXin hân hạnh giới thiệu một seminar về cách viết và trình bày báo cáo khoa học sẽ được tổ chức tại Bệnh viện Tai Mũi Họng (TMH) vào ngày 17 và 18/12/2011 (thứ Bảy và Chủ nhật).

Trong vài năm gần đây, tôi và vài bạn trong nước thường hay “kêu gọi” chuyện công bố quốc tế. Phải vài năm thì lời kêu gọi đó mới được ghi nhận, và các cơ quan hữu trách đã có hành động. Năm ngoái, Bộ Giáo dục và Đào tạo có tổ chức một workshop về cách viết và công bố bài báo khoa học ở Hà Nội và TPHCM.   Workshop này có sự tham gia của tôi và 2 giáo sư người Úc bên lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học giáo dục. Sau workshop đó, tôi đã có dịp thực hiện một số buổi nói chuyện về công bố quốc tế chủ yếu là các bệnh viện phía Bắc và mới đây nhất là ở Đại học CầnThơ. Nhưng có lẽ “đỉnh điểm” là workshop 4 ngày về cách viết bài báo khoa học ở Đại học Y Hà Nội và Đại học Quốc gia TPHCM. Những workshop như thế đã đem lại vài hiệu quả trực tiếp cho các bạn tham dự, và gián tiếp đóng góp vào số ấn phẩm khoa học VN trên trường quốc tế.
Nằm trong chiều hướng đó, tôi rất hân hạnh thông báo cùng các bạn quan tâm rằng sẽ có một semiar 2 ngày tại bệnh viện Tai Mũi Họng về đề tài “Diễn giải kết quả nghiên cứu lâm sàng”. Đây là một sinh hoạt khoa học trong chương trình CME của Bệnh viện TMH với sự hỗ trợ của sanofi aventis. Chương trình thật ra tập trung vào hai chủ đề như sau: 
Ngày 17/12: Diễn giải kết quả nghiên cứu lâm sàng. Trong seminar này sẽ có 4 bài giảng liên quan đến (a) nguyên lí y học thực chứng và các mô hình nghiên cứu lâm sàng; (c) ý tưởng nghiên cứu và tiêu chuẩn để đánh giá một nghiên cứu; (b) các thước đo ảnh hưởng (effect size) cho từng mô hình nghiên cứu.
Ngày 18/12: Viết và công bố bài báo khoa học. Trong seminar này sẽ có 4 bài giảng liên quan đến (a) cách viết bài báo khoa học; (b) lí do bài báo khoa học bị từ chối; (c) vấn đề tiếng Anh; và (d) cách trình bày báo cáo khoa học theo chuẩn mực quốc tế.
Tham khảo. Các bài giảng này chủ yếu từ cuốn “Y học thực chứng” của tôi (Nhà xuất bản Y học, 2010). Tôi cũng sẽ minh hoạ những bài giảng và chia sẻ cùng các bạn qua những nghiên cứu của chính chúng tôi đã thực hiện ở trong và ngoài nước.
Liên lạc: Bs Thanh Tâm tại 0909 336 632.
Hi vọng sẽ gặp các bạn trong seminar.
NVT
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Khám phá trong nghiên cứu khoa học xã hội qua các phương pháp định lượng

http://stepsandleaps.files.wordpress.com/2011/06/wordle-general-survey.jpgNăm ngoái tôi có dịp nói chuyện ở Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ (thực ra, đây là phân viện khoa học xã hội ở phía Nam), và có dịp tiếp xúc với những nghiên cứu của Viện và Viện Khoa học Xã hội. Một điểm chung của các nghiên cứu này là sự trống vắng của phương pháp định lượng (quantitative methods). Do đó, khi được mời nói chuyện trong Hội thảo Khoa học Xã hội thời Hội nhập (15/12/2011) tôi sẽ nói về khám phá trong khoa học xã hội qua phương pháp định lượng. Dưới đây là bản abstract (tóm tắt) của bài nói chuyện của tôi trong Hội thảo.
Trong Hội thảo này, có lẽ tôi là một người đơn độc. Nhìn vào chương trình hội thảo thấy rất nhiều bài nói chuyện định tính hơn là định lượng, và hình như tập trung vào những vấn đề mang tính chung chung hơn là những nghiên cứu cụ thể. Không thấy những nghiên cứu đáp ứng các vấn đề cấp thiết xã hội đang đặt ra. Nhưng có lẽ điều này cũng dễ hiểu vì chủ đề của Hội thảo là “hội nhập” quốc tế. Tôi nghĩ một cách hội nhập quốc tế hay nhất là nghiên cứu khoa học. Và, nghiên cứu phải đúng phương pháp và chuẩn mực quốc tế. Do đó, trong bài nói chuyện tôi sẽ cố gắng hết mình để thuyết phục rằng cần phải nâng cao tính định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội. Dù một bài nói chuyện như thế có thể đơn độc trong Hội thảo, nhưng như thế hoá ra lại có cái tốt của sự đơn độc.

Trên thế giới có hàng trăm tập san khoa học xã hội và bàng bạt trong những tập san này là phương pháp định lượng. Thử xem qua những tập san như American Journal of Sociology, American Socilogical Review, Journal of Asian Studies, Annual Review of Sociology, Human Ecology, Social Research, American Journal of Political Science, Psychometrika, Educational Measurements, v.v. chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều những công trình nghiên cứu định lượng. Ngược lại, các tập san KHXH Việt Nam thì gần như chẳng có nghiên cứu định lượng nào. Hoặc khi có thì phương pháp quá đơn giản hoặc chưa đúng chuẩn mực. Do đó, tôi nghĩ nhu cầu của phương pháp định lượng trong nghiên cứu KHXH ở nước ta rất lớn. Bài nói chuyện dưới đây sẽ cố gắng thuyết phục giới nghiên cứu KHXN ở Việt Nam nên chú ý đến các phương pháp định lượng mà tôi sẽ giới thiệu trong một workshop 5 ngày sau Hội thảo. Những phương pháp định lượnhg sẽ giúp cho giới nghiên cứu KHXH khám phá nhiều mối liên hệ thú vị. 
NVT
===
Khám phá trong nghiên cứu khoa học xã hội qua các phương pháp định lượng
Hai chữ khoa học trong khoa học xã hội có thể hiểu bằng nhiều nghĩa khác nhau, nhưng ở đây tôi muốn nói đến những khám phá tri thức mới có độ tin cậy và chính xác cao. Cách hiểu khoa học này thật ra xuất phát từ khoa học tự nhiên, nhưng cũng có thể áp dụng cho khoa học xã hội. Trong bài này, tôi sẽ bàn về việc ứng dụng khoa học thống kê (statistical science, chứ không phải đơn thuần thống kê học – statistics) như là một phương tiện để khám phá tri thức mới cho các nhà khoa học xã hội. 
Các dữ liệu từ nghiên cứu khoa học xã hội thường rất phức tạp, vì mang tính đa biến và đa chiều. Khám phá những cơ cấu và mối liên hệ giữa các yếu tố trong một nghiên cứu là một thách thức lớn cho các nhà khoa học xã hội. Tuy nhiên, những phát triển trong khoa học thống kê đã giúp cho việc khám phá dễ dàng hơn. Ứng dụng của khoa học thống kê trong khoa học xã hội có thể chia thành hai nhóm: thiết kế nghiên cứu và suy luận khoa học. Bất cứ công trình nghiên cứu nào cũng khởi đầu từ khâu thiết kế, và khoa học thống kê đóng góp vào việc (a) chọn mô hình nghiên cứu thích hợp và tối ưu cho câu hỏi nghiên cứu; (b) ước lượng cỡ mẫu cần thiết cho mô hình nghiên cứu; cách lấy mẫu sao cho đảm bảo tính đại diện một quần thể.
Phân tích dữ liệu trong khoa học xã hội có thể chia thành hai nhóm chính: mô tả và suy luận. Mỗi nhóm phân tích đều có sự đóng góp của khoa học thống kê. Đối với phân tích mô tả, các phương pháp “cổ điển” như kiểm định Ki bình phương (Chi-squared test), kiểm định t, kiểm định z có thể ứng dụng để đáp ứng những câu hỏi nghiên cứu đơn giản. Rất nhiều phương pháp phân tích suy luận (inferential statistics) có thể ứng dụng cho các nghiên cứu khoa học xã hội. Các phương pháp định lượng mang tính suy luận bao gồm các mô hình phân tích hai biến (bivariate analysis) và đa biến (multivariate analysis) là những phương pháp quan trọng hỗ trợ cho nhà nghiên cứu trong việc thẩm định những mối tương quan phức tạp trong khoa học xã hội. Những phương pháp phân tích đa biến như phân tích yếu tố (factor analysis) và phân tích cụm (cluster analysis) còn giúp cho nhà nghiên cứu giảm độ phức tạp của cơ cấu dữ liệu, và dẫn đến những khám phá mà các phương pháp phân tích đơn giản không thể nào phát hiện được. Những mô hình như hồi qui tuyến tính, hồi qui logistic, hồi qui Poisson, hồi qui Cox cung cấp những phương tiện định lượng rất quan trọng trong việc khám phá các yếu tố có ảnh hưởng đến một sự cố hay hiện tượng xã hội.
Trong vài năm gần đây, khoa học thống kê đã có những phát triển ngoạn mục, và những phát triển này cung cấp cho khoa học xã hội những phương pháp định lượng để có những khám phá mới. Những phát triển mới trong mô hình tuyến tính cho phép nhà nghiên cứu phân tích những dữ liệu thu thập theo thời gian (longitudinal research). Với sự phát triển của máy tính, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã có thể tiếp cận các phương pháp phân tích “hiện đại” như bootstrap và mô phỏng MCMC (Markov Chain Monte Carlo) mà trước đây chỉ dành cho các nhà khoa học thống kê chuyên nghiệp. Phương pháp MCMC cũng giúp cho các nhà khoa học xã hội có thể phân tích dữ liệu theo trường phái Bayes (Bayesian approach). Các phương pháp Bayes càng ngày càng trở nên hấp dẫn và quan trọng trong khoa học xã hội, vì các phương pháp này cho phép nhà nghiên cứu phát biểu về độ tin cậy của một giả thuyết khoa học dựa trên dữ liệu quan sát (thay vì phương pháp cổ điển chỉ cho phép nhà nghiên cứu phát biểu về dữ liệu quan sát trên cơ sở giả thuyết khoa học).
Ở nước ta, có một nghịch lí đáng chú ý: các nghiên cứu về khoa học xã hội hiện diện trên các tạp chí trong nước rất nhiều, nhưng lại xuất hiện rất ít trên các tạp chí khoa học quốc tế. Số liệu thống kê năm 2004 cho thấy trong số 8408 bài báo khoa học trong các tạp chí và kỉ yếu khoa học, có đến 4345 (hay 53%) là những bài báo liên quan đến khoa học xã hội. Tuy nhiên, trong năm 2004, con số bài báo khoa học xã hội trên các tạp chí khoa học quốc tế chưa quá con số 10 bài. Ngoài ra, phân tích của chúng tôi cho thấy trong thời gian 1996 – 2005, trong tổng số 3456 bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tạp chí quốc tế, chỉ có 69 bài (tức khoảng 2%) liên quan đến ngành khoa học xã hội. Do đó, tuy số lượng nghiên cứu khoa học xã hội ở nước ta cao hơn so với các ngành khoa học tự nhiên, nhưng đại đa số những nghiên cứu đó chỉ xuất hiện trên các tạp chí trong nước, và rất ít xuất hiện trên các tạp chí quốc tế.
Một trong những “nguyên nhân” cho sự hiện diện khiêm tốn của khoa học xã hội Việt Nam trên trường quốc tế là vấn đề phương pháp định lượng. Có thể nói rằng phần lớn những nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam chưa tận dụng những phương pháp khoa học (scientific method) và phương pháp thống kê trong việc thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu, và diễn giải dữ liệu. Một số nghiên cứu có sử dụng phương pháp thống kê, nhưng chưa hẳn có hệ thống và chưa thích hợp. Nhiều sai sót hiển nhiên về cách lấy mẫu, phân tích và suy luận từ dữ liệu có thể tìm thấy trong rất nhiều bài báo trong ngành khoa học xã hội. Những thiếu sót về phương pháp dẫn đến chất lượng nghiên cứu chưa được cao, và hệ quả là nhiều công trình khó có cơ hội để được công bố trên các tạp chí khoa học xã hội quốc tế.
Ở các nước tiên tiến, khoa học thống kê (statistical science) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển khoa học xã hội. Từ năm 1965, báo cáo Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội ở Anh (Social Science Research Council) nhấn mạnh rằng nếu không có thống kê học và toán học, thì khoa học xã hội không thể nào phát triển được. Do đó, khoa học xã hội ở nước ta cần đến khoa học thống kê để phát triển. Khoa học thống kê có thể giúp cho các nhà khoa học xã hội phân tích mô tả và phân tích suy luận, và dẫn đến những khám phá có ý nghĩa thực tế và giúp cho việc hoạch định các chính sách công hữu hiệu hơn. Trong y khoa có học thuyết y học thực chứng (evidence based medicine) mà theo đó thực hành y khoa phải dựa vào bằng chứng khoa học.  Trong lĩnh vực xã hội, khái niệm chính sách công thực chứng (evidence based public policy) vốn đã hình thành gần đây, với nguyên lí các chính sách nên dựa vào bằng chứng khoa học.  Bằng chứng khoa học đáng tin cậy nhất phải đúc kết từ nghiên cứu khoa học mang tính định lượng.  Do đó, nghiên cứu khoa học xã hội bằng phương pháp định lượng sẽ giúp ích trong việc định hình những chính sách công thực chứng ở nước ta.
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Phương pháp định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội

http://qmss.columbia.edu/files_qmss/imce_shared/QMSS_Logo_Final.jpgXin hân hạnh thông báo cùng các bạn quan tâm đến workshop rằng tôi đã soạn xong chương trình làm việc. Kèm theo đây là danh sách bài giảng trong workshop về “Phương pháp định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội”.


Bài giảng. Trong workshop sẽ có 30 bài giảng (xem danh sách dưới đây) chia thành 3 phần. Phần 1 là 22 bài liên quan đến lí thuyết, thiết kế nghiên cứu, và phân tích dữ liệu. Phần 2 là 4 bài giảng về R. Phần 3 gồm 4 bài giảng về cách viết và báo cáo kết quả nghiên cứu. Chương trình này dù chỉ là nhập môn nhưng rất tham vọng so với thời gian cho phép. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng hết mình làm cho workshop thoải mái, không quá căng thẳng và nhồi nhét. Bài giảng bằng tiếng Anh (để các bạn quen với thuật ngữ tiếng Anh), nhưng nói tiếng Việt. 
Thực hành. Ngoài ra, vì workshop đặt nặng thực hành nên chúng tôi cũng đã sắp xếp sẵn những dataset để học viên có thể phân tích. Cố nhiên, các học viên sẽ phân tích dưới sự hướng dẫn của các trợ giảng. Các bạn có thể download tất cả các datasets (dạng csv) trong file winrar dưới đây. Các datasets này sẽ được sử dụng trong workshop, nên các bạn phải lưu trữ trong máy tính cá nhân. Chúng tôi dự định chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ để thực hành và thảo luận. Chương trình thảo luận và thực hành cụ thể cho từng ngày sẽ được phát trước một ngày học.
Software. Một phần quan trọng trong workshop này là thực hành. Các bạn cần phải có chương trình R để phân tích dữ liệu. Có thể download R từ website sau đây: http://cran.ms.unimelb.edu.au/bin/windows/base/R-2.14.0-win.exe.
Ngoài ra, cần có những packages sau đây để phân tích: Hmisc, Design, MASS, car, psych, sampling, survey,gmodel. Tất cả các packages có thể download từ:http://cran.ms.unimelb.edu.au/web/packages/available_packages_by_name.html.
Dataset. Mỗi học viên sẽ được cấp một bộ câu hỏi (questionnaire) về xã hội và môi trường. Ngày đầu lớp học, mỗi học viên sẽ sử dụng questionnaire để thu thập dữ liệu, và dữ liệu sẽ được dùng cho phân tích. Tuy nhiên, chúng tôi đã thu thập một số dữ liệu sẵn cho phân tích. Những dữ liệu này có thể download từ trang web này (xem địa chỉ dưới đây). Dữ liệu được trữ trong file .csv và nén trong dạng winrar.
Tài liệu tham khảo. Những tài liệu sau đây sẽ được sử dụng như là tài liệu tham khảo trong workshop:
Phân tích số liệu và biểu đồ với R, của tôi (Nguyễn Văn Tuấn), nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật 2005. Có thể download bảng pdf từ trang web của Laboratoire de Génétique et Evolution des Maladies Infectieuses:
Đi vào nghiên cứu khoa học, cũng của tôi, do nhà xuất bản Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2011 ấn hành. Sách này hi vọng [chưa dám hứa] sẽ xuất bản trong tháng 12 và chúng tôi sẽ tặng mỗi học viên một quyển. Hơi tốn tiền một chút :-), nhưng chắc ban tổ chức sẽ ok.
An overview of psych package, của William Revelle, 2011. Có thể download từ website: http://cran.r-project.org/web/packages/psych/vignettes/overview.pdf.
R for multivariate analysis. Có thể download từ:https://netfiles.uiuc.edu/miguez/www/Teaching/MultivariateRGGobi.pdf.
Các bạn có thể download những tài liệu đó trước khi tham dự lớp học.
Bài giảng chính
Bài giảng
Nội dung
1
Lí thuyết và nghiên cứu xã hội (Theory and social research)
2
Câu hỏi nghiên cứu (research question)
3
Kĩ thuật chọn mẫu (sampling techniques)
4
Mô hình nghiên cứu KHXH (research designs)
5
Đạo đức khoa học (ethics)
6
Cách tính cỡ mẫu (sample size estimation)
7
Cách thiết kế bộ câu hỏi (questionnaire design)
8
Quản lí dữ liệu nghiên cứu (data management)
9
Phân tích khai thác dữ liệu (exploratory analysis)
10
Phân tích mô tả 1: biến liên tục (descriptive analysis 1: continuous variables)
11
Phân bố bình thường (normal distribution)
12
Khoảng tin cậy (confidence intervals)
13
Phân tích mô tả 2: biến phân loại (descriptive analysis 2: categorical variables)
14
Kiểm định giả thuyết (test of significance)
15
Suy luận thống kê (statistical inference)
16
Phân tích suy luận so sánh 2 nhóm 1: biến liên tục (comparing two groups 1: continuous variables)
17
Phân tích suy luận so sánh 2 nhóm 2: biến phân loại (comparing two groups 2: categorical variables)
18
Phân tích Ki bình phương (Chi squared analysis)
19
Phân tích tương quan giữa 2 biến (bivariate correlation analysis)
20
Mô hình hồi qui tuyến tính (simple linear regression model)
21
Suy luận từ mô hình hồi qui tuyến tính (inferences in simple linear regression model)
22
Phân tích phương sai (analysis of variance)

Bài giảng về R và viết báo cáo
Bài giảng
Nội dung
1
Giới thiệu R
2
Phân tích mô tả với R (phần 1)
3
Phân tích biểu đồ với R
4
Phân tích mô tả với R (phần 2)
5
Cách viết bài báo khoa học
6
Tại sao bài báo khoa học bị từ chối
7
Cách viết bài báo khoa học: Vấn đề tiếng Anh
8
Cách trình bài báo cáo khoa học trong hộu nghị

Chi tiết ghi danh / đăng kí: Trung tâm Đào tạo và Phát triển Nguồn Nhân lực. Địa chỉ: P. 514-516 Nhà Điều hành, Khu phố 6 P.Linh Trung Q. Thủ Đức TP.HCM. Liên lạc: Chị Linh 090 931 0886 Chị Ngân: 09388.46656. Website:http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=396
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Cách trình bày tốt trong hội nghị


http://www.powerpointbackgroundtemplates.net/images/powerpoint-presentation-tips.jpgThỉnh thoảng nhận được thư của các bạn từng theo học trong những workshop về “kĩ năng mềm” làm tôi … ấm lòng. Mấy lần trước, tôi đã chia sẻ với các bạn về những trường hợp mà học viên ứng dụng thành công những gì tôi hướng dẫn, hôm nay xin trích một thư của một học viên thành công, và cũng nhân cơ hội này trả lời ngắn cho em ấy luôn.


Email viết (trích):
Em là L, đã tham gia 2 workshop của Thầy tại Tp.HCM, những workshop của Thầy rất bổ ích và "đúng" vào thời điểm em đang cần. Sau workshop viết bài báo khoa học, em đã có 1 accepted paper, mới đây, workshop về trình bày báo cáo trong hội nghị, em có đặt câu hỏi cho thầy, lúc đó em đang băn khoăn có nên tham dự hội nghị KH & trình bày bài accepted paper của mình được không, lúc đó em cũng đang xin tài trợ kinh phí đi dự hội nghị từ NAFOSTED, bây giờ đã được chấp nhận (trong workshop em có hỏi Thầy về các tổ chức nào có tài trợ cho sinh viên ra nước ngoài tham dự hội nghị). Chỉ có điều họ sẽ chi trả sau khi em đi về, vé máy bay họ đã book cho em, em thấy cũng hơi rắc rối, chi phí tham dự conference, book hotel ...
Em viết email 1 là muốn cám ơn Thầy, hy vọng sau này có cơ hội học với Thầy vì Thầy chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm quý báu, 2 là xin hỏi Thầy kinh nghiệm để em trình bày tốt trong hội nghị, ngày mai là em bay rồi thưa Thầy, vì thời gian cấp bách, Nafosted chấp nhận cách vào đầu tuần này ( thứ 2), cuối tuần em đã bay, ít có thời gian chuẩn bị, nên em chưa thực hành tập nói gì nhiều ạ.
Em thường xuyên đọc trang web của Thầy, em nhớ câu: Làm gì thì làm, nhưng không được làm mất mặt người Việt Nam :)
Chúc Thầy sức khỏe.

Tôi thường đặt ra một mục tiêu cho mỗi workshop tôi làm là phải có outcome. Outcome ở đây có lẽ nên dịch là thành quả. Học viên sau khi xong khoá học phải có thành quả, như công bố được bài báo khoa học (đây là chỉ tiêu tham vọng nhất, nhưng tôi phải đặt ra). Trong quá khứ đã có nhiều em và đồng nghiệp làm được điều này và thế là nâng cao năng suất khoa học cho Việt Nam. Có em làm được chỉ nhờ đọc những bài viết trên web chứ không có điều kiện tham dự trực tiếp trong các workshop. Nói thật lòng, đó là những thành quả tôi lấy làm tự hào và là động cơ để tiếp tục làm những việc như thế này. Có lần tôi nói trong workshop về trình bày là mấy em bây giờ giỏi hơn tôi mấy chục năm trước, vì các em nói tiếng Anh một cách tự tin, biết thực hành đúng bài bản những gì được hướng dẫn. Đó là nhận xét chân tình, chứ không phải “ngoại giao”.   Đây là những người sẽ giúp Việt Nam hội nhập quốc tế về khoa học trong tương lai.
Em L hỏi cách nào để trình bày tốt. Tôi chỉ có thể khuyên nhanh như thế này:
1. Tìm hiểu khán giả trong hội nghị là ai. Nếu là hội nghị quốc tế thì chắc trong khán giả có người là bậc thầy cô của mình, có người cũng như mình (tức nghiên cứu sinh), nói chung là đa dạng, thì em nên tập trung vào nghiên cứu của mình. Cố tránh những slide mang tính lên lớp (vì mình chưa ở vị trí dạy thầy cô mình) hay những kiến thức kinh điển (vì sẽ làm cho người ta cười mình là trẻ con). Nên đi thẳng vào vấn đề, không nên loanh quanh làm mất thì giờ người khác.
2. Xác định “money slide”. Như tôi có nói trong workshop trước, mỗi bài nói chuyện trong hội nghị phải có cái gọi là money slide, tức là slide có dữ liệu quan trọng nhất, dữ liệu định hình cái nghiên cứu của mình. Đó là slide ăn tiền, slide mà khi họ về nhà vẫn còn nhớ đến mình.  Tất cả các slides khác phải được soạn để yểm trợ cho cái money slide.
3. Khi soạn slides, nhớ đến qui ước n x n. Mỗi slide (nếu text) chỉ nên có khoảng 5-6 dòng thôi, và mỗi dòng nên giới hạn 5-6 chữ. Điều chỉnh số chữ bằng cách chọn font size thích hợp. Nhớ chọn font không chân! Nhớ chọn màu cho thích hợp. Nếu phòng rộng thì chọn màu nền là xanh đậm và chữ trắng hay vàng; nếu phòng hẹp thì chọn màu nền là màu sáng (trắng) và chữ đậm. Nếu có thể, cố gắng dùng nhiều biểu đồ và hình ảnh thay vì dùng slides bằng chữ.
3. Thực hành. Nên nhớ mỗi slide chỉ có 1 phút là tối đa. Nếu người ta cho em 15 phút thì em nên có tối đa là 15 slides. Thực hành nói rất quan trọng. Em nên làm như sau:
  • Cách hay nhất là em soạn (viết ra) toàn bộ bài nói chuyện. Trong bài nói chuyện, em soạn luôn câu mởi đầu, và những câu quan trọng cho từng slide.
  • Soạn xong, em nên học thuộc lòng (nếu được), vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ nên học thuộc lòng cho … chắc ăn.
  • Thực hành nói: em đứng trước kiếng hay gì đó và thực hành nói, xem có đúng giờ không. Khi đã ok, em mời vài đồng nghiệp vào nghe em nói và đề nghị họ theo dõi giờ, theo dõi điệu bộ xem có ok không.
  • Không bao giờ chủ quan! Trước ngày trình bày, em nên thức sớm và thực hành (trước khi đi ăn sáng!) Ăn sáng xong thì thực hành khó lắm. Ngay trước khi trình bày em vào phòng Speaker (trong hội nghị quốc tế có những phòng dành cho speakers), xem lại slides xem có hình ảnh nào "trật đường rầy" hay những câu chữ nào cần thêm/bỏ, và thực hành một lần nữa.
  • Khi đã ok, em bỏ slide ra, và nghĩ đến tình huống bị cúp điện và em vẫn nói như phây! (Học thuộc lòng rồi, nên chuyện trục trặc kĩ thuật chẳng có vấn đề gì cả).
4. Tập nói. Khi nói, nên nhớ câu đầu là lúc nào cũng cám ơn ban tổ chức và khen thành phố mình đến dự một chút :-). Chẳng hạn như: Thank you, Mr chairman, for your kind introduction. Thank you the organizing committee for giving me an opportunity to come to this BEAUTIFUL CITY and present my work concerning [tựa đề bài báo cáo]. Vạn sự khởi đầu nan: câu mở đầu rất quan trọng. Nếu câu mở đầu trôi chảy, xác suất cao là bài nói chuyện sẽ suôn sẻ. Nếu thành phố em đến có một sự cố nào đó (như Bangkok bị bão lụt chẳng hạn) em nên nói một câu chia buồn với người ta.  Nói được như thế em sẽ gây cảm tình ở khán giả ngay!  Nếu em tự tin khả năng tiếng Anh của mình, có thể nói một câu pha trò để khán giả thức dậy. Dĩ nhiên là nếu chia buồn thì tuyệt đối không được pha trò. 
Khi chuyển từ slide này sang slide khác, em nên dùng nhiều kĩ thuật transition như có đề cập trong workshop.  Chẳng hạn như trước khi chuyển sang slide khác, em nói "In the next slide, I will show .." hoặc "Shown in the next slide is ..." và tay thì đã bấm, xong câu là slide hiện lên ngay.  Làm như thế bài nói chuyện của em sẽ trôi chảy, không đứt đoạn một cách buồn cười.  Khi thấy khán giả có người ngủ, em nói một câu vực họ dậy, như I would like to ask you to pay attention to this figure (nói lớn và nhấn mạnh), hoặc this slide is very important, because ..., hoặc This result is quite remarkable ... Nói bằng giọng nhấn mạnh, chậm nhưng chắc!
5. Câu hỏi. Khi nói xong, em nên có một câu mời gọi người ta đặt câu hỏi. Một cách nói đơn giản là: Thank you for your attention. I would be happy to discuss with you about any point that is not clear in my presentation. Không trốn tránh câu hỏi.  Trước khi trả lời, cám ơn người đặt câu hỏi (thank you for your interesting question). Nếu câu nào khó quá thì nói sẽ bàn thêm hay hỏi trong khán giả có ai biết thì trả lời hộ.  Nếu người hỏi muốn "kiếm chuyện" thì nên bình tĩnh và tỏ ra mình cao hơn họ bằng cách nói rằng "MY VIEW is that .... MY VIEW may not be consistent with yours, but it is consistent with evidence".  Nhấn mạnh là MY VIEW bằng cách nói chậm và lên giọng. Nếu còn ngoan cố hỏi nữa, thì em nói là chúng ta đồng ý là bất đồng ý kiến (we agree to disagree on this point, thank you).  
Nên nhớ là slide cuối cùng phải có cám ơn (acknowledgements). Cần nói thêm là ở VN tôi thấy người ta ít khi cám ơn ai, làm như tất cả dữ liệu là chỉ do họ khám phá ra! Em phải tỏ ra “văn minh” là cám ơn đồng nghiệp và bất cứ ai giúp mình làm được cái nghiên cứu. Ai đó cho tiền em đi dự hội nghị, em phải cám ơn người ta trong slide. NAFOSTED cho tiền thì phải cám ơn họ một cách trịnh trọng. Chẳng những trong slide mà còn phải nói rõ ràng. Cám ơn ban tổ chức đã cho em cơ hội trình bày (ví dụ: I also thank the organizing committee for giving me an opportunity to present my data here in this conference).
Đó là vài lời khuyên nhanh cho em và các bạn. Hi vọng và chúc các bạn một buổi trình bày thành công.
NVT
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác