Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Khoa học Việt Nam: vẫn còn lệ thuộc nước ngoài

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ năm 2011-2020 nhấn mạnh công bố quốc tế như là một thước đo về thành quả của hoạt động nghiên cứu khoa học. Bài này điểm qua tình hình công bố quốc tế trong năm 2012, và so sánh với các nước trong vùng Đông Nam Á. Những dữ liệu mới nhất cho thấy năng suất khoa học của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nướctrong vùng, và cho đến nay, vẫn chưa tạo được một dấu ấn đáng kể. 


Khoa học và nghiên cứu khoa học là một trong những yếu tố định hình khả năng cạnh tranh và nền kinh tế tri thức. Bất cứ học thuyết xã hội nào cũng nhất trí một điều là nếu một quốc gia muốn trở thành một “diễn viên” trên trường quốc tế, nghiên cứu khoa học và phát triển (R&D) đóng một vai trò then chốt. Bắt chước người khác, bán sản phẩm và công nghệ của người khác có thể đem lại vài hiệu quả ngắn hạn, nhưng không thể là nền móng cho phát triển về lâu dài. Singapore, Đài Loan, và Hàn Quốc không thể phát triển như ngày nay nếu không có chiến lược đầu tư lâu dài cho nghiên cứu khoa học. Bài học từ các nước này là khả năng sáng tạo trong khoa học và công nghệ là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của một nước.

Do đó, không ngẫu nhiên mà các nước phát triển đặt nặng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ như là một ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế. Chính phủ nước ta cũng xác định nghiên cứu và phát triển khoa học là một định hướng để tiến đến một nền kinh tế tri thức. Mỗi năm, Chính phủ đầu tư khoảng 2% ngân sách Nhà nước cho hoạt động khoa học. Con số này không nhỏ trong bối cảnh kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều khó khăn. Do đó, cần phải có một đánh giá tổng quan về hiệu suất của chi tiêu cho khoa học.

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011-2020 có một điểm mới đáng chú ý: xem công bố quốc tế là một chỉ tiêu để đánh giá thành quả của nghiên cứu khoa học. Đây là một chuẩn mực phù hợp với chuẩn mực của cộng đồng khoa học quốc tế. Thật vậy, “sản phẩm tri thức và sáng tạo thường được thể hiện qua những công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san khoa học quốc tế. Số lượng bài báo khoa học trên các tập san này được xem như là một thước đo về mức độ hoạt động khoa học. Nhưng lượng khác với chất, một nước (như China chẳng hạn) công bố rất nhiều bài báo khoa học, nhưng chất lượng khoa học thường rất thấp. Do đó, nên cạnh lượng, chúng ta cũng cần quan tâm đến chất.

Lượng

Trong năm 2012 (tính đến đầu tháng 12) các nhà khoa học Việt Nam và đồng nghiệp công bố được 1335 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này của năm 2011 là 1324. Như vậy, số ấn phẩm khoa học của Việt Nam có gia tăng, nhưng tốc độ tăng trưởng có lẽ còn khiêm tốn.

Trong cùng thời gian, các nhà khoa học Thái Lan công bố được 4624 bài, cao hơn Việt Nam 3.4 lần. Số ấn phẩm khoa học của Malaysia trên các tập san quốc tế năm 2012 là 6158, cao hơn Thái Lan 33% và cao hơn Việt Nam gần 5 lần, và đang vượt lên xấp xỉ tầm Singapore (8193 bài). Tuy nhiên, số ấn phẩm khoa học của Việt Nam cao hơn Indonesia và Philippines.

Phân tích chi tiết lĩnh vực nghiên cứu (Bảng 1) cho thấy một xu hướng đáng chú ý. Tính chung, 13% những công trình nghiên cứu công bố quốc tế từ Việt Nam là thuộc ngành toán. Ngành vật lí cũng có tỉ trọng 13%. Đây là một biến chuyển đáng chú ý, vì trong thập niên 1980-89, có đến 33% bài báo khoa học của Việt Nam là thuộc lĩnh vực toán học, và hơn 25% là thuộc lĩnh vực vật lí. Ngày nay, nghiên cứu về y sinh học đứng đầu bảng, chiếm 30% tổng số bài báo khoa học từ Việt Nam (trong thập niên 1980-1990, số ấn phẩm khoa học ngành y sinh học chỉ chiếm 7% tổng số). Riêng ngành khoa học xã hội của Việt Nam còn quá khiêm tốn, chỉ đóng góp ~3% tổng số “sản lượng” khoa học của Việt Nam. 


Bảng 1: Tỉ trọng (%) bài báo khoa học phân chia theo một số lĩnh vực nghiên cứu chính

nh vực 
Việt Nam
Thái Lan
Malaysia
Indonesia
Philippines
Singapore
Tổng số bài báo
1335
4624
6158
1020
694
8193
Phân chia theo ngành (%)
Toán
13.0
3.7
3.4
1.2
3.0
4.2
Vật lí
13.0
6.4
8.7
6.6
2.6
17.6
Y sinh
30.4
46.7
28.2
28.3
45.2
22.6
Kĩ thuật
16.6
14.5
36.5
18.2
5.0
41.1
KHXH
2.8
2.2
3.4
2.1
9.4
5.8
Chú thích: “Kĩ thuật” bao gồm kĩ thuật, khoa học máy tính, khoa học vật liệu. KHXH (khoa học xã hội) bao gồm kinh tế học, xã hội học, luật, và giáo dục. 

Những nước trong vùng có nền kinh tế phát triển nhanh có số lượng ấn phẩm về kĩ thuật khá cao (36% đối với Malaysia và 41% đối với Singapore). Trong khi đó, các ngành kĩ thuật của Việt Nam chỉ đóng góp khoảng 17% tổng số ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế.

Chất

Như đề cập trên, đánh giá chất lượng nghiên cứu ở qui mô quốc gia thường dựa vào các chỉ số như chỉ số trích dẫn và chỉ số H. Chỉ số trích dẫn càng cao là tín hiệu cho thấy nghiên cứu có chất lượng cao. Chỉ số H phản ảnh tác động hay mức độ ảnh hưởng của nghiên cứu.

Bảng 2 trình bày chỉ số trích dẫn trung bình cho những bài báo khoa học của Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, và Singapore. Tính trung bình, mỗi bài báo của Việt Nam công bố vào năm 2009 được trích dẫn 5.12 lần sau 3 năm công bố. Chỉ số này cao hơn Malaysia (4.83), nhưng thấp hơn Thái Lan (6.56) và Singapore (9.36).

Tuy nhiên, chỉ số trích dẫn rất khác nhau giữa các ngành khoa học và giữa các quốc gia trong mỗi ngành khoa học. Ngoại trừ ngành y sinh học (Việt Nam có chỉ số trích dẫn cao hơn Malaysia), tất cả các ngành còn lại nghiên cứu của Việt Nam đều có chỉ số trích dẫn thấp nhất so với các nước vừa kể. Ngành toán, vật lí, và kĩ thuật của Việt Nam có chỉ số trích dẫn thấp nhất so với các nước Thái Lan, Malaysia, và Singapore. Tầm ảnh hưởng của nghiên cứu, qua phản ảnh bởi chỉ số H, của Việt Nam cũng thấp nhất so với các nước vừa kể. 


Bảng 2: Chỉ số H và chỉ số trích dẫn

Lĩnh vực  
Việt Nam
Thái Lan
Malaysia
Singapore
Chỉ số trích dẫn




Tất cả các ngành   
5.12
6.56
4.83
9.36
Toán
2.81
3.24
5.69
4.78
Vật lí
4.77
5.92
6.05
8.64
Y sinh
7.25
8.42
5.04
10.75
Kĩ thuật
4.98
5.83
6.12
8.52
KHXH
4.08
4.25
4.08
4.29
Chỉ số H




Tất cả các ngành   
25
43
39
74
Toán
10
11
15
17
Vật lí
11
19
19
38
Y sinh
19
39
23
50
Kĩ thuật
12
27
33
51
KHXH
7
9
11
18
Ghi chú: chỉ tính những công trình nghiên cứu công bố vào năm 2009. Thời gian trích dẫn tính từ 2009 đến 2012. Chỉ số H phản ảnh số lần trích dẫn và số bài báo được trích dẩn. Chẳng hạn như chỉ số H của Việt Nam (25) có nghĩa là Việt Nam có 25 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn 25 lần trở nên trong thời gian 2009-2012. 

Lệ thuộc nước ngoài 

Những con số trên không nói lên một thực tế là phần lớn những bài báo nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là do hợp tác quốc tế. So với các nước Thái Lan, Malaysia, và Philippines, Việt Nam có tỉ lệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học cao nhất. Khoảng 80% các công trình khoa học là do hợp tác với nước ngoài. Tính chung, tỉ lệ hợp tác quốc tế ở Thái Lan là khoảng 50%, Malaysia (40%), và Philippines (70%). Tuy nhiên, một xu hướng chung là tỉ lệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học của Việt Nam giảm trong những năm gần đây, có lẽ phản ảnh năng lực nội địa đang tăng trưởng. 

Phân tích theo ngành cho thấy ngành y sinh học của Việt Nam có tỉ lệ hợp tác cao nhất (90%). Tỉ lệ hợp tác quốc tế trong ngành toán của Việt Nam là khoảng 50%. Những phân tích này cho thấy ngành toán của Việt Nam có vẻ có “nội lực” tốt hơn so với ngành y. 

Nước có hợp tác nghiên cứu khoa học với Việt Nam là Nhật. Số bài báo có tác giả Nhật chiếm gần 13% tổng số bài báo của Việt Nam. Những nước có hợp tác nhiều khác là Mĩ (11%), Pháp (10%), Hàn Quốc (7.8%), Đức (6.7%), Anh (6.4%), và Úc (6.2%). 

Xếp hạng 

Trong số 236 quốc gia được xếp hạng về hoạt động nghiên cứu khoa học, Việt Nam đứng hạng 68 về số lượng ấn phẩm khoa học, cao hơn Philippines (70), nhưng thấp hơn Thái Lan (42), Malaysia (43), và Singapore (32). Tuy nhiên, nếu dựa vào chỉ số H thì thứ hạng của VN là 62, thấp nhất so với những nước vừa được đề cập. Kết quả này cho thấy nghiên cứu khoa học của Việt Nam có tầm ảnh hưởng thấp nhất so với các nước trong vùng. 

Mặc dù số ấn phẩm y sinh học chiếm phần đa số trong tổng số ấn phẩm khoa học của Việt Nam, nhưng thứ hạng thì thấp (70 trên 224 quốc gia). Ngành toán của Việt Nam mạnh về “nội lực” nhưng được xếp hạng 56 (trên tổng số 183 quốc gia), thấp hơn Thái Lan (53), Malaysia (49), và Singapore (35), nhưng cao hơn Indonesia (75) và Philippines (82). 

Năng suất khoa học vừa trình bày trên cần phải đặt trong bối cảnh lực lượng khoa học của Việt Nam. Số liệu thống kê cho thấy Việt Nam hiện đang có trên 9500 giáo sư và phó giáo sư, cùng với trên 2 vạn tiến sĩ. Nếu mỗi giáo sư / phó giáo sư hay tiến sĩ công bố được 1 nghiên cứu trong vòng 2 năm (một năng suất rất khiêm tốn), chúng ta kì vọng rằng mỗi năm Việt Nam có thể đóng góp 15,000 bài báo khoa học cho thế giới (tức cao hơn Thái Lan với khoảng 2000 giáo sư và giảng viên). Nhưng trong thực tế, Việt Nam chỉ công bố được khoảng 1300 bài, tức chưa đầy 10% của con số tiềm năng. Số liệu từ ISI (tính trong vòng 5 năm qua) cho thấy số tác giả Việt Nam có công bố quốc tế thường xuyên (ít nhất 2 bài) chỉ xấp xỉ 1100 người. Dĩ nhiên, trong số này không phải 100% là tiến sĩ. Nhưng nếu giả dụ rằng 100% là tiến sĩ thì con số 1100 này so với 9 vạn giáo sư và 2 vạn tiến sĩ vẫn cho thấy rất nhiều nhà khoa học Việt Nam không tham gia công bố quốc tế. 

Mức độ hợp tác nghiên cứu khoa học của Việt Nam là một vấn đề đáng quan tâm. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học là một xu hướng hiện đại, và cần được khuyến khích, vì qua hợp tác, nhà khoa học có cơ hội để học hỏi và làm quen với công nghệ tiên tiến. Nhưng hợp tác theo hình thức bình đẳng khác với hợp tác theo kiểu chỉ làm “gia công” cho nước ngoài. Rất khó đánh giá mô hình hợp tác khoa học của Việt Nam theo hình thức nào, nhưng nhìn qua thứ tự và vai trò của tác giả, có thể nói rằng phần lớn hợp tác khoa học của Việt Nam, nhất là trong ngành y, là theo mô hình làm công cho các nhà khoa học nước ngoài. Ở những nước có nền khoa học tiên tiến, tỉ lệ hợp tác quốc tế dao động trong khoảng 40-50%. Ở những nước có nền khoa học kém tiên tiến, tỉ lệ hợp tác quốc tế thường cao hơn 60%. Theo đánh giá của các chuyên gia đánh giá khoa học, tỉ lệ hợp tác 80% trở lên được xem là “lệ thuộc”. Do đó, có thể nói rằng khoa học Việt Nam nói chung đang ở trong tình trạng lệ thuộc nước ngoài. 

Tóm lại, những dữ liệu về hoạt động khoa học của Việt Nam trong năm qua chưa tạo nên một dấu ấn nào đáng chú ý. Số công trình nghiên cứu công bố trên các tập san khoa học quốc tế có tăng, nhưng mức độ tăng trưởng vẫn còn thấp. Chiến lược Khoa học Công nghệ 2011-2020 của Chính phủ đặt mục tiêu tăng số lượng công bố quốc tế 15-20% mỗi năm. Thật ra, hiện nay, tỉ lệ tăng trưởng số bài báo khoa học có năm cũng đã đạt 15-20%, nhưng không đều. Với tỉ lệ tăng trưởng như Chiến lược hoạch định, đến năm 2021 số công bố quốc tế của ta chỉ mới bằng Thái Lan năm 2011, và 2023 chúng ta cũng chỉ bằng Malaysia năm 2011. Nếu không có mục tiêu cao hơn, chúng ta sẽ mãi mãi thấp kém hơn Thái Lan và Mã Lai cả về số lượng và chất lượng.

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Nên xem lại “nghiên cứu khoa học”

Sáng nay, một bạn đọc nhận xét rằng “Em thấy hiện tại ai ai, cũng làm ‘nghiên cứu khoa học’”. Em để bốn chữ đó trong ngoặc kép. Nhận xét này làm tôi có cảm hứng viết ra suy nghĩ của cá nhân tôi về câu hỏi: thế nào là nghiên cứu khoa học.


Hiện nay ở Việt Nam, nghiên cứu khoa học gần như trở thành một phong trào. Hầu như cơ quan nào cũng có chính sách -- lớn hay nhỏ -- khuyến khích nghiên cứu khoa học. Phong trào này nó lan rộng từ thành phố đến tỉnh và thậm chí cấp huyện. Các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, v.v. có lẽ là những nơi hăng hái nhất vì họ ở trong điều kiện và bối cảnh lí tưởng để làm nghiên cứu. Nhưng ngay cả những nơi mà điều kiện khoa học còn hạn chế cũng hăng hái nói đến nghiên cứu khoa học. Phong trào này cũng giống như cái thời mà người ta hô hào “phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, mạnh dạn tấn công vào khoa học kĩ thuật”. Chú ý những chữ rất kêu: dân tộc anh hùng, tấn công, khoa học, kĩ thuật. Đọc lên thì nghe rổn rảng, nhưng suy nghĩ kĩ thì nó chỉ là một cụm mĩ từ chỉ để nói suông cho vui tai. Nhìn chung thì đó là một bức tranh sinh động và đáng khen. Nhưng nhìn kĩ thì hình như phong trào nghiên cứu khoa học có vấn đề.

Vấn đề chủ yếu là phong trào đó (nghiên cứu khoa học) chỉ nhằm để đáp ứng với những chỉ tiêu và “mục tiêu chính trị”. Chẳng ai biết mục tiêu chính trị là gì, nhưng ai cũng cảm nhận rằng đó là mục tiêu quan trọng, vì hoàn thành mục tiêu chính trị có liên quan đến danh dự của cơ quan. Nhưng còn một lí do khác mà người ta hăng say làm nghiên cứu khoa học: thi đua. Ở VN có những danh hiệu rất lạ, và một trong những danh hiệu đó là “chiến sĩ thi đua”. Chẳng biết dịch sang tiếng Anh ra sao, nhưng tôi mường tượng rằng đó là một danh hiệu quí. Trong bệnh viện, theo tôi biết, để có danh hiệu quí đó, cá nhân phải có nghiên cứu khoa học. Ở các đại học cũng thế, chiến sĩ thi đua là một danh hiệu thường rơi vào những cá nhân có thành tích trong nghiên cứu khoa học. Do đó, có thể nói rằng cái động cơ để bác sĩ, giảng viên, chuyên gia, .v.v làm nghiên cứu khoa học chưa chắc là đi tìm sự thật hay phát minh gì, mà chỉ để nâng cao khả năng có được cái danh hiệu mà chỉ ở VN mới quí trọng.

Còn một lí do khác nữa cho nghiên cứu khoa học: để có học vị. Thời đại ngày nay, ai cũng muốn có tấm bằng sau cấp cử nhân, như masters (đáng lí ra dịch là “cao học”), và nhất là tiến sĩ. Không theo nghiệp học thuật thì các bác sĩ cũng cố gắng lấy cái bằng “chuyên khoa II” (cũng một lần nữa chỉ có ở Việt Nam!) Để có những cái bằng này, ứng viên phải làm nghiên cứu khoa học. Để thành một tiến sĩ, họ cần phải có những kĩ năng cần thiết, trong đó có kĩ năng làm nghiên cứu khoa học. Do đó, làm hay tham gia vào nghiên cứu là một cách rất thiết thực để có kĩ năng chuyên môn. Thật ra, ở các nước như Úc và Anh, học tiến sĩ chủ yếu là làm nghiên cứu chứ không có học coursework như bên Mĩ. Trong những trường hợp này tôi nghĩ nghiên cứu khoa học có thể là chính đáng.

Lí do sau cùng để người ta làm nghiên cứu khoa học là vì khoa học. Đó là những người không màn đến danh hiệu “chiến sĩ thi đua” và chẳng hám bằng cấp. Họ chỉ thấy hiện trạng (như trong lâm sàng) rồi tò mò đặt câu hỏi, và làm nghiên cứu. Nếu kết quả tốt họ công bố trên các tập san quốc tế, nếu kết quả không tốt họ chỉ để đó và làm tiếp. Những người này rất tự giác, họ không ngồi một chỗ mà than “không có tiền”, mà họ tự xoay xở, đi xin chỗ này, tìm hỗ trợ chỗ kia để làm. Tôi còn biết có người bỏ tiền túi ra làm! Phải nói rằng những người làm nghiên cứu khoa học để tìm sự thật khoa học là cực kì cực kì hiếm ở Việt Nam. Tôi gọi họ là “rare species”, sắp tuyệt chủng.

Trong thực tế, rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở VN không phải là “nghiên cứu khoa học”. Trước đây, ông Nguyễn Thiện Nhân từng than phiền rằng có nhiều đề tài nghiên cứu mà đọc lên là thấy kì lạ. Ví dụ như nghiên cứu về giặt quần áo cho quân đội, hoàn thiện quản lí thị trường chứng khoán VN, vai trò của nhà nước đối với văn hóa, v.v. đọc lên chẳng thấy cái tính khoa học ở đâu cả. Trong ngành y, tôi đọc khá nhiều luận án tiến sĩ, và cảm nhận của tôi là những luận án này chưa xứng tầm của một học vị tiến sĩ. Lí do thì nhiều, nhưng quan trọng nhất là công trình nghiên cứu khó có thể nói là “khoa học”. Ở đây, tôi chỉ nói trong ngành y là chủ yếu, chứ không biết mấy ngành khác ra sao. Gs Trần Văn Thọ cũng nói về ngành kinh tế như sau: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”. Tiêu chuẩn đào tạo thấp như thế làm cho nhiều tiến sĩ của VN có tầm thấp hơn so với đồng nghiệp nước ngoài.

Ấy thế mà có giáo sư ở VN nhầm lẫn rằng đi chợ mua cá mua tôm là nghiên cứu khoa học! Lại có giáo sư trình bày những tài liệu về chủ quyền biển đảo (những tài liệu được thu thập từ các nguồn trong và ngoài nước) và xem đó là “nghiên cứu khoa học”. Với cách hiểu về nghiên cứu khoa học như thế chúng ta không ngạc nhiên khi những kiểm kê lâm sàng (clinical audit) mà cũng xem là luận án tiến sĩ! Có rất nhiều luận án tiến sĩ mà trong đó chỉ có 1 nghiên cứu duy nhất, và người ta làm hết thống kê mô tả này đến thống kê mô tả khác từ một nguồn dữ liệu! Có những luận án mà ứng viên chỉ cần đi đếm có bao nhiêu người mắc bệnh trong một làng xã nào đó hay bệnh viện nào đó, rồi làm thống kê yếu tố nguy cơ. Lại có người “lười biếng” chỉ review những ca phẫu thuật, rồi đếm bao nhiêu tốt hơn và bao nhiêu xấu hơn. Đó là những bài tập thống kê sơ đẳng, chứ có gì là nghiên cứu khoa học đâu. Gs Trần Văn Thọ nhận xét: “Những vấn đề lớn của VN là hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng nầy.” Những luận án tiến sĩ như trình bày ở đây (yte.gov.vn/Luan%20an%20tien%20sy.htm) nếu đặt vào những tiêu chuẩn học thuật nghiêm chỉnh, thì không biết bao nhiêu thật sự là xứng đáng với luận án tiến sĩ và “nghiên cứu khoa học”.

Vậy thì câu hỏi phải đặt ra: thế nào là một nghiên cứu khoa học? Tôi đã bàn đến câu hỏi này trong cuốn “Đi vào nghiên cứu khoa học” (Nxb Tổng Hợp 2012). Cộng đồng khoa học định nghĩa nghiên cứu khoa học (scientific research hay scientific study) là qui trình thực hiện một thí nghiệm có phương pháp để kiểm định một hay nhiều giả thuyết, hoặc để nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi chuyên biệt. Dĩ nhiên, “thí nghiệm” ở đây phải hiểu rộng hơn trong khoa học xã hội. Hai từ quan trọng trong định nghĩa này là có phương pháp và giả thuyết. Nghiên cứu khoa học phải dựa vào phương pháp khoa học (scientific method). Chính phương pháp khoa học phân biệt một nghiên cứu khoa học thật với một nghiên cứu khoa học dỏm (pseudo scientific research).

Hiểu nghiên cứu khoa học như thế thì chúng ta sẽ thấy ở VN rất ít nghiên cứu khoa học. Những công trình gọi là “nghiên cứu” đánh giá hiệu quả của một chính sách hay biện pháp nào đó rất khó mà xem là nghiên cứu khoa học, bởi vì đó là nhiệm vụ bình thường của cơ quan chức năng. Đúng như Gs Hoàng Tụy có lần nhận xét rằng “Tôi đã tham gia nhiều hội nghị về các đề tài khoa học cấp Nhà nước của một số ngành. Theo tôi, những cái gọi là đề tài khoa học ấy thực ra thuộc về chức trách, nhiệm vụ của họ. Chẳng hạn, làm giáo dục thế nào cho tốt thì đấy là công việc mà cơ quan lãnh đạo giáo dục cần phải nghiên cứu.”

Do đó, trong bối cảnh nghiên cứu khoa học đã và đang trở thành một phong trào, tôi nghĩ cần phải sàng lọc và phân loại thế nào là nghiên cứu khoa học. Tôi nghĩ không ai bác bỏ những nghiên cứu khoa học để có danh hiệu như “chiến sĩ thi đua”, nhưng tôi nghĩ người ta sẽ không chấp nhận nếu gắn cụm từ “nghiên cứu khoa học” cho những công việc thường qui để có những danh hiệu đó. Mượn câu nói của người phương Tây, “cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar”, tôi muốn nói rằng cái gì thuộc về phạm trù khoa học (như đi tìm sự thật và qui luật tự nhiên) thì mới dùng chữ “khoa học”, còn cái gì mang tính công việc thường ngày thì không nên gán hai chữ “khoa học” vào, vì gán ghép như thế chỉ làm vẫn đục thêm môi trường khoa học vốn đã bị lu mờ bấy lâu nay.

 
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác