Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Vietnam’s not got talent?

Xin giới thiệu một bài trên báo Thanh Niên (bản tiếng Anh) viết về tình trạng “chảy máu chất xám”. Tôi thích cái tựa đề “Vietnam’s not got talent?” Chú ý dấu hỏi. Nếu có talent thì sao VN vẫn còn nằm trong danh sách các nước nghèo nhất thế giới? Nói gì thì nói, biện minh thế nào thì biện minh, nhưng cái nghèo nó nói lên tất cả.

Một số lãnh đạo và báo chí VN hay tự hào rằng VN ta thông minh chẳng kém ai trên thế giới, và lấy những giải thưởng Olympic làm chứng cứ. Có thể có vài cá nhân người Việt cũng thông minh, nhưng tôi nghĩ nước nào cũng có những cá nhân như thế. Lấy những cá nhân đó hay những giải thưởng dành cho trẻ em ra làm chứng cứ thì e rằng chỉ giải quyết được mặc cảm kém cỏi của một dân tộc, mà không thuyết phục được thực tế là VN vẫn còn rất nghèo. Tôi thấy không có một dân tộc nào tự hào rằng mình “thông minh” và nói nhiều về thông minh như người Việt Nam. Tôi nghĩ có thể vì mình kém thông minh nên mới bị ám ảnh (phải nói là “ám ảnh”) bởi khái niệm “thông minh”. Thật là tội nghiệp!

Bài báo này nói về thu hút chất xám Việt kiều. Ý tưởng này đã có từ những 20 năm trước với những dự án lớn. Nhưng kết quả thì ai cũng thấy: không có gì. Ngay cả ngài thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng từng nói rằng sẽ thu hút 1000 nhà khoa học Việt kiều về VN làm việc và giảng dạy. Nhưng cho đến nay theo tôi thấy chẳng có bao nhiêu Việt kiều về VN làm việc lâu dài. Ai cũng biết nhưng không muốn nói ra: môi trường khoa học ở VN chưa thuận lợi để thu hút được các nhà khoa học nước ngoài. Không biết tôi có bi quan quá hay không, nhưng tôi nghĩ vài chục năm nữa thì môi trường này vẫn như thế, thậm chí tồi hơn, chứ không thấy “ánh sáng cuối đường hầm”. Do đó, không phải hôm nay, mà trong tương lai, cái tựa đề “Vietnam’s not got talent” sẽ không cần dấu hỏi đằng sau.

NVT

http://www.thanhniennews.com/index/pages/20130815-vietnam-not-got-talent.aspx

Vietnam’s not got talent?

Last Updated: Tuesday, August 20, 2013 06:00:00

Government struggles to lure overseas Vietnamese talent back home; experts say it may take years

After the Vietnam War ended in 1975, Jean Nguyen and her family moved to the US, where she then graduated at the top of her class at West Point,  America’s premier military academy, ten years later.
US President Ronald Reagan called her an “American hero.”

Nguyen’s story, and the story of US-Vietnam relations, came full circle that day.

West Point was a driver of the killing of millions of Vietnamese and a million more Laotians and Cambodians during “The Vietnam War,” which had caused Nguyen to leave.

The country now finds itself lacking talented and trained workers, specialists and leaders.

Historically, the cause has been war and colonialism and their lingering aftereffects. Currently, it might have to do more with bloated bureaucracies and business and management culture. Experts are mulling over what can be done in Vietnam to keep talent around, and draw in talent from overseas.

‘No limit to what Vietnamese can do’

Jean Nguyen is an example of Vietnamese resilience.

“Imagine what this girl had to overcome: being Vietnamese, being a girl, being a foreigner [to be] the best student in the most prestigious American military academy,” Marek Karliner, an Israeli Stanford post-grad who attended the West Point ceremony in 1985, told Vietweek.

“I was very impressed and since then I have realized that, given the conditions, there is no limit to what Vietnamese can do,” Karliner, who was attending an international physics conference that wrapped up last week in the central town of Quy Nhon, said.

Indeed, Vietnam has never been short of talent. Stories of students acing international contests and achieving top-notch performances at foreign universities are legion.

Three years ago the country celebrated as French-trained Vietnamese mathematician Ngo Bao Chau won the Fields Medal, the math version of the Nobel Prize.

But, nearly four decades after the Vietnam War, the country remains bogged down in an education quagmire that threatens to drag down the workforce and stall the country's development, leaving analysts to grapple with the question of what Vietnam has done with its talent.

While Vietnamese authorities have repeatedly pledged measures to tackle the poor state of higher education and the poor remuneration of academics, the rhetoric has not been matched by action, experts say, prompting a rising number of the nouveau riche, as well as middle and upper income families in Vietnam, where the annual per capita income was around US$1,555 last year, to send their children abroad for higher studies.

Analysts say they are “escaping” an education system that is rigid, of suspect quality, and riddled with scandals.

70 percent of Vietnamese students who go abroad to study choose to stay in foreign countries after graduation to further study or work, according to the Ministry of Education and Training. More than 30,000 Vietnamese students were studying abroad last year.

The lack of incentives for overseas Vietnamese, or Viet Kieu, to lure them back home has kept a lot of Vietnamese talent from benefiting the country.

According to the State Committee for Overseas Vietnamese, of the 4.5 million Vietnamese living around the world, 400,000 have bachelor’s and higher degrees, but only some 1,000 of them have returned home to work.

In 2004 the Communist Party passed a resolution aimed at attracting overseas Vietnamese home to support development in every sector. 

The resolution has succeeded in pulling in a rising amount of remittances and investment from overseas Vietnamese, but has failed to woo academics back to the country. 

Those who do return often leave again, lamenting their work is hindered by red tape, lack of a free hand, and poor working conditions.

“The number of Vietnamese academics who have returned home to settle down has remained very small,” Nguyen Van Tuan, a scientist at the Garvan Institute of Medical Research in Australia, said.

“Given the unfavorable working conditions and environment in Vietnam, coupled with the family obligations of Vietnamese scientists, I’m expecting no major breakthrough in the short run.”

At home, analysts blame the squandering of talent on the seniority- and inertia-based hierarchies at government agencies and institutions that have discouraged and demoralized high-caliber graduates.
“Some important government agencies… all have bizarre regulations reflecting very conservative, outmoded perceptions that contribute nothing to the minimal basic conditions scientists require,” Hoang Tuy, a prominent Vietnamese educator, wrote several years ago. This remains relevant today.

He cited the example of a professor’s hourly salary being determined by his rank within the bureaucracy. On the government salary scale, the most senior professor is paid less than a medium level bureaucrat.
“There are so many salary grades that the majority of hardworking, talented scientists can never reach the highest grade… unless they work until the age of 90 or 100,” he wrote.

“A knowledge-based economy is in fact an economy that relies on intellect and talent… [But] science and education stagnate while talent is profligately wasted.”

In his resignation speech to the National Assembly in 2006, Prime Minister Phan Van Khai admitted to a “failure” in overhauling the country’s education and science sectors.

Last year the Party deferred issuing a resolution on an across-the-board overhaul of the education system, saying more time was needed because the resolution failed to tackle core issues.

Trailing behind

National development can be built only on solid scientific and technological bases. The chain scientific knowledge, education, technological achievements, economic growth has to be followed all the way and there are no shortcuts, experts say.

Although Vietnam invests more in scientific research as a percentage of gross domestic product than many countries in the Asia-Pacific region, the research capabilities of Vietnamese universities lag far behind those of their neighbors. 

For instance, in 2005 Vietnamese researchers produced around 2.5 peer-reviewed science and engineering articles per million people or just around half Thailand’s rate.

Last year Vietnam was ranked 76th out of 141 countries in the Global Innovation Index published by French business school INSEAD and the UN’s World Intellectual Property Organization, and behind Singapore, Thailand, and Malaysia.

Foreign companies have warned that the poor quality of universities will hinder Vietnam's economic growth and made it difficult for them to find enough graduates in finance, management, and information technology.

The European Chamber of Commerce (EuroCham) in Vietnam said last December: “If Vietnam is to reach international standards in its educational institutions, it will need to…provide the necessary legislative and regulatory environment to enable recruitment and retention of capable staff from around the world.” 

More political will

There seems to be an increasing political will among Vietnam’s top leadership to give science a lift and lure back lost talent.

After Ngo Bao Chau won the Fields Medal in 2010, Prime Minister Nguyen Tan Dung approved the setting up of the Institute of Advanced Research in Mathematics and installed Chau as its director. 

The institute aims “to improve mathematical research across the country, creating a new environment and a new research space for mathematicians.”

Last month deputy PM Nhan, an East Germany- and US-trained technocrat who was admitted to the Party’s decision-making body, the Politburo, last April, urged agencies concerned to expedite site clearance so work on the University of Science and Technology of Hanoi can go ahead. 

He would not brook any scrapping of funding by the Asian Development Bank (ADB), which has lent $190 million for setting up the school, he warned.

The $213-million university, which would take in 5,000 students when it opens in 2016 or 2017, “seeks to establish a new model university focused on science and technology an important driver of innovation and a key to sustained growth in Vietnam's living standards,” Norman LaRocque, senior education specialist at the ADB, said. 

France has donated about $140 million to the university.

It was also Nhan who, at the Quy Nhon conference August 12, reiterated that the development of science, technology, and education would be the country’s top priority.

The conference, which brought together 180 international physicists including five Nobel laureates, was initiated and has been hosted since 1993 by Tran Thanh Van, a world-renowned Vietnamese-French physicist. 

Though its remains a bit of an alien event to most ordinary people, insiders have high hopes that the participation of world-renowned scientists would help stimulate science education in Vietnam.
But experts liken science to a plant that takes a long time to grow, and say it needs long-term and uninterrupted care. 

“Those who seek immediate returns from the investment in education and science make a serious mistake,” Jean Iliopoulos, a French scientist attending the conference, said. 

After World War II, it took Europe billions and billions in aid and half a century to get back on track.
When Finland faced a serious economic disaster in the nineties, rather than neglecting research and innovation, it decided instead to increase investment in science and research to more than 3 percent, one of the highest in Europe, paving the way for the Scandinavian country to have one of the highest living standards in the world today.

Elsewhere in Asia, despite the devastating legacy of the Korean War in the 1950s, South Korea was determined to join the world-class science community, and did so successfully after about a half-century of struggles.

Singapore was a raggedy town that had been plundered by the British at the time of independence. It only became the science and research powerhouse it is now around 15 years ago.

On the sidelines of the Quy Nhon conference, there was a debate about how to lure back overseas Vietnamese talent. 

There was consensus that if Vietnam is serious about doing so and reforming the science sector, the most important issue would not be money but the political willingness to create favorable conditions for the academics.

“What we desperately need is a more open mind in management,” Nguyen Trong Hien, a senior scientist at the US’s National Aeronautics and Space Administration, told Vietweek.

He said he was “troubled” because a meeting with local amateur astronomers on the sidelines of the conference was canceled at the last minute because it had not gotten “approval” from local authorities.
“If this had happened 20 years ago, we could have been more sympathetic. How long will we have to wait to have a chance to compare notes with our colleagues comfortably?

“The ultimate goal of a scientist is doing research and science education. We don’t have any other hidden political agenda and are not interested in it at all.

“The authorities need to get rid of such backward mindset at once.”



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Tù nhân và tự do học hành


Thực tình, đọc báo QĐND là một kinh nghiệm không dễ dàng và thoải mái. Những lí giải trong tờ báo đó cùng với những giọng văn đặc thù làm cho người đọc cảm thấy như bị tăng huyết áp. Lại có những lí giải quan trọng mang tính khẳng định nhưng chứng cứ thì chưa được rõ ràng. Tiêu biểu cho tình trạng này là một bài phản ứng trước lời kêu gọi lập đảng chính trị mới của ông Lê Hiếu Đằng, tác giả Trọng Đức viết trên QĐND như sau: 

 “Thực tế, với tuổi đời như ông Đằng, chắc ông cũng thừa hiểu, trong thế giới hiện nay, hầu như chẳng có nước nào, kể cả những nước đang tự vỗ ngực là dân chủ và muốn áp đặt kiểu dân chủ của mình làm ‘khuôn vàng, thước ngọc’ cho toàn thế giới, cho phép tù nhân đang thụ án ra tù để đi thi đại học. Ở Việt Nam cũng vậy.”


Tôi e rằng phán xét của tác giả là một sai lầm nghiêm trọng. Ở các nước như Úc, Anh và Mĩ (những nơi tôi có chút kinh nghiệm), tù nhân có quyền ghi danh theo học tại các trường cao đẳng dạy nghề và đại học. Dĩ nhiên, họ chỉ theo học các chương trình hàm thụ. Mấy năm trước đây, báo chí Úc đưa tin về một tù nhân thuộc nhóm “tù nhân nguy hiểm” sau khi ra tù lấy liền một lượt 2 bằng đại học!  Ở Anh cũng có khá nhiều tù nhân vừa thụ án vừa theo học đại học từ xa.  Những chương trình học tù nhân hay theo đuổi là … luật. Ngoài luật khoa, các tù nhân còn thích theo học các chương trình về kinh tế và khoa học xã hội. 

Chẳng những tù nhân được theo học đại học, mà Nhà nước và các đại học còn chủ động đem giáo dục đến cho họ. Chẳng hạn như ở bang Nam Úc, Đại học Flinders còn có chương trình dự bị đại học cho những tù nhân chưa có bằng trung học, để trong thời gian thụ án, họ có thể tiếp tục học đại học.  Theo chương trình này thì giảng viên của trường đến tận nhà tù để giảng dạy. Họ nói đó là một chương trình độc đáo chỉ có ở Úc, nhưng tôi không rõ có thật sự Úc đi tiên phong trong việc đem giáo dục đại học đến tù nhân hay không. 

Những nước đó (Úc, Anh, Mĩ) không “tự vỗ ngực là dân chủ”. Họ thậm chí còn không có những tiêu đề như “Độc lập, tự do, hạnh phúc” dưới quốc danh. Nhưng họ xem đem giáo dục đến tù nhân (không phải “giáo dục tù nhân” hay “cải tạo tù nhân”) là một vấn đề nhân quyền. Nói cách khác, dù trong môi trường mất tự do, nhưng tù nhân có quyền tự do được theo học. Còn phía nhà cầm quyền thì họ xem việc đem giáo dục đến tù nhân là một cách giúp cho họ nhận thức được cái đúng và cái sao, hay cũng là một hình thức giúp cho tù nhân hòa nhập với xã hội khi họ xong án tù phạt. 

Báo chí và chính phủ các nước đó cũng chẳng phùng mang trợn mắt khi công dân họ có ý kiến khác chính phủ.  Có thể các nước đó chưa biết đến câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh (“Dân chủ là để cho dân mở mồm ra nói. Dân chủ là đừng bịt miệng dân”) nhưng những gì xảy ra trong thực tế tại các nước đó đúng như câu nói nổi tiếng đó. 

Bài báo còn có đoạn viết về dân chủ mà tôi nghĩ sẽ làm cho người đọc, kể cả người viết cái note này, lúng túng vì không biết logic đằng sau ra sao. Ví dụ như cách giải thích “Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ độc đảng hay đa đảng mà nó phụ thuộc vào bản chất chế độ cầm quyền phục vụ giai cấp nào.” Giải thích thế nào là dân chủ thì chắc đòi hỏi cả một bài luận văn dài, và trong thực tế đã có nhiều học giả giải thích về câu hỏi này. Cá nhân tôi thì nghĩ đơn giản là dân chủ cũng phụ thuộc vào thể chế đa đảng. Theo cách hiểu của tôi (và chắc nhiều người khác nữa), dân chủ là một hệ thống chính trị mà trong đó sự cạnh tranh quyền lực được diễn ra một cách công minh, là hệ thống chính trị mà người dân cho quyền chọn và truất phế người lãnh đạo và lãnh đạo phải có trách nhiệm với xã hội và người dân. Bởi vì bản chất là cạnh tranh, nên đa đảng là điều tất yếu. Còn nếu chỉ có một đảng thì cạnh tranh chỉ xảy ra trong nội bộ chứ không thể xảy ra ngoài đảng được, và rất khó xem đó là “dân chủ”. 

Sẵn dịp, tôi tò mò tìm hiểu xem các Bách khoa từ điển VN định nghĩa dân chủ là gì, và phát hiện một vài khác biệt thú vị.  Bách khoa toàn thư định nghĩa về dân chủ như sau: “hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.” Sau đó, trang này còn định nghĩa/giải thích dân chủ xã hội chủ nghĩa như sau: “ […]DC xã hội chủ nghĩa là DC của đại đa số nhân dân, gắn với công bằng xã hội, chống áp bức bất công; được thực hiện trong thực tế trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm. Đảng cộng sản là người lãnh đạo trong nền DC đó.” Định nghĩa này không dễ hiểu chút nào!  Từ điển wikipedia định nghĩa dân chủ là một hình thức chính phủ mà tất cả công dân hợp pháp tham dự - qua người đại diện hay trực tiếp – một cách bình đẳng vào việc để nghị, phát triển và tạo ra luật pháp. Một thể chế dân chủ, theo wikipedia, là bao gồm các điều kiện xã hội, kinh tế và văn hóa cho phép người dân tham gia một cách bình đẳng và tự do vào việc tự lập chính trị.  Còn Karl Popper, một triết gia về khoa học, định nghĩa dân chủ là đối nghịch với độc tài, chuyên chế; dân chủ là tạo cơ hội của người dân kiểm soát lãnh đạo của họ và truất phế lãnh đạo mà không cần đến một cuộc cách mạng. So sánh như thế thì thấy định nghĩa dân chủ của sách báo Việt Nam còn rất khác so với cách hiểu chung trên thế giới. 

Nói đến tự do, tôi thấy thật là đáng ngại khi tác giả kết thúc bài viết bằng một câu văn so sánh con người với súc vật về tự do: “Con người không thể đòi quyền tự do cắn xé đồng loại như con vật, nói rộng ra, không thể ‘thích làm gì thì làm’ như con vật.”  Tôi e rằng tác giả đã [cố tình?] hiểu sai ý nghĩa của hai chữ “tự do” trong bài của ông Lê Hiếu Đằng. Không một người có học nghiêm túc nào lại nói đến quyền “tự do thích làm gì thì làm như con vật”. Một xã hội tự do cho phép các thành viên trong xã hội quyền tự do làm những gì họ thích nhưng phải tôn trọng quyền tự do của người khác và tôn trọng đạo lí xã hội.  Một cá nhân có thể tự do mạt sát người khác là súc vật nhưng sự mạt sát đó vi phạm đạo lí làm người trong một xã hội văn minh. 

Theo tôi hiểu, ông Lê Hiếu Đằng đề cập đến tự do như là một ý tưởng chính trị, như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, v.v.  (Đâu có ai thấp đến độ nói đến tự do giết người!)  Tự do tư tưởng và ngôn luận là môi trường tốt nhất để đi đến sự đồng thuận trong điều kiện bất đồng chính kiến. Không ai có thể nói đúng 100% và cũng chẳng ai nói sai 100%, nhưng trong một xã hội tự do báo chí, những ý kiến sẽ hoàn hảo hơn và hi vọng sẽ đạt đến chân lí. Chính vì thế mà trước đây Nguyễn Ái Quốc đã than rằng “Mãi tới bây giờ chưa có một người Việt Nam nào được phép xuất bản một tờ báo nào cả. Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở Châu Âu và các nước Châu Á khác chứ không phải một tờ báo do chính quyền thành lập.”  Ông cụ mà sống lại chắc cũng không hài lòng với tình trạng hiện nay. 

Nói tóm lại, ở vài nước phương Tây (và tôi tin là các nước khác ở châu Á), những nơi mà người ta không tự xưng là tự do và dân chủ, tù nhân có quyền tự do theo học đại học. Theo như ông Lê Hiếu Đằng thuật lại thì ngày xưa VNCH cũng cho phép tù nhân được ghi danh học hành một cách chính thống. Không có lí do gì một thể chế văn minh với tiêu chí “độc lập, tự do, hạnh phúc” mà không cho phép tù nhân quyền theo học đại học.
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

“Từ nghiên cứu đến công bố” đã tái bản!

Hân hạnh giới thiệu đến các bạn cuốn sách Từ nghiên cứu đến công bố: kĩ năng mềm cho nhà khoa học đã được tái bản tuần vừa qua. Trong lần tái bản này, tôi đã thêm 3 chương viết về:

·           Những sai sót phổ biến trong bài báo khoa học;
·           Một số hướng dẫn cách trình bày thông tin thốngkê trong bài báo khoa học; và
·           Những nguyên tắc trình bày biểu đồ.


Vì thêm chương, nên sách cũng tăng số trang lên thành 626 trang (thay vì 598 trang trong bản đầu tiên). Điều này có nghĩa là sách cũng …tăng giá. Giá bán lẻ do Nhà xuất bản ấn định bây giờ là 200.000 đồng.  Sách đã có bán trong các nhà sách như Phương Nam,Minh Khai (độ tin cậy cao), Fahasa (độ tin cậy thấp).

Cuốn sách đã nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt của bạn đọc xa gần, phần lớn là trong đại học và viện nghiên cứu. Tuy gọi là “kĩ năng mềm”, nhưng tôi muốn nghĩ nó là những “kĩ năng cần thiết” cho bất cứ ai đang hay sắp làm nghiên cứu khoa học.  Thú thật, tôi chưa biết cuốn sách nào (kể cả sách viết bằng tiếng Anh) có những hướng dẫn cụ thể như trong cuốn này.  Tôi viết từ kinh nghiệm cá nhân, nên hi vọng sẽ đáp ứng nhu cầu của nhiều bạn đọc. 

Tuy nhiên, ông bà ta có câu “văn ôn võ luyện”, đọc sách là quan trọng, nhưng thực hành càng quan trọng hơn.  Để đáp ứng nhu cầu thực hành, cuối năm nay, nếu thời gian cho phép và chuẩn bị kịp, tôi sẽ có một lớp học 6 ngày về cách viết bài báo khoa học và đề cương nghiên cứu cho các tổ chức quốc tế ở Hà Nội.  Ngoài ra, theo chương trình dự kiến, Đại học Tôn Đức Thắng sẽ tổ chức một lớp học 10 ngày về phân tích dữ liệu. Tôi và một vài bác sĩ khác sẽ tham gia hướng dẫn trong lớp học này.

NVT

Lời nói đầu nhân lầntái bản

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những nỗ lực nhằm nâng cao sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Trong thời gian gần đây, đã có nhiều nhận xét rằng so với các nước trong vùng và các nước có cùng dân số cũng như đầu tư cho khoa học, sự hiện diện của Việt Nam trên trường khoa học quốc tế còn rất khiêm tốn. Hiện nay, từ Bộ Khoa học và Công nghệ đến các trường đại học và viện nghiên cứu đều đang có những nỗ lực để khắc phục tình trạng đó. Nhưng một trong những khó khăn (và cũng là trở ngại chính) của nhiều người làm nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là chưa quen với cách viết một bài báo khoa học, và còn hạn chế về việc sử dụng tiếng Anh. Cuốn sách này sẽ giúp cho các đồng nghiệp khoa học làm quen với “văn chương khoa học”, và nâng cao cơ hội để kết quả nghiên cứu được công bố trên các tập san quốc tế.

Cuốn sách chỉ mới được ấn hành khoảng ba tháng trước đây, và đã được đón nhận một cách nồng nhiệt từ công chúng và các nhà khoa học trong và ngoài nước. Có nhiều bạn nghiên cứu sinh đang theo học ở nước ngoài viết thư cho tôi rằng cuốn sách là một “hành trình” rất cần thiết cho các bạn ấy trong thời gian học tập và sau khi tốt nghiệp. Sự đón nhận của các đồng nghiệp và các bạn là một sự khích lệ rất lớn đối với tôi. Một số bạn đề nghị viết thêm về cách trình bày bằng biểu đồ và những sai sót phổ biến trong phân tích dữ liệu. Do đó, trong lần tái bản thứ nhất này, cuốn sách đã được thêm 3 chương nhằm đáp ứng yêu cầu của các bạn.

Tôi muốn nhân cơ hội này để nói lời cảm tạ đến Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp biên tập và ấn hành cuốn sách bạn đang cầm trên tay cũng như những cuốn sách của tôi trong thời gian qua. Có bạn đọc chia sẻ là một niềm vinh hạnh,nhưng có nhà xuất bản đồng cảm và đồng hành trong việc đem kĩ năng khoa học đến với bạn đọc là một khích lệ lớn mà tôi muốn ghi nhận ở đây. Dù cố gắng rất nhiều, nhưng tôi nghĩ cuốn sách có thể có vài khiếm khuyết, và tôi rất muốn các bạn đọc chỉ ra những khiếm khuyết đó để lần tái bản sau hoàn chỉnh hơn.

Mỗi một tác phẩm có một kì vọng, và cuốn sách này cũng không phải là ngoại lệ. Kì vọng của cuốn sách và cũng là của tôi là nhìn thấy những công trình nghiên cứu khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế gia tăng nhanh. Khoa học Việt Nam đang trong thời kì hội nhập quốc tế, và tôi muốn xem cuốn sách này là một nỗ lực giúp các đồng nghiệp trong quá trình hội nhập.

Tác giả



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Strong Bone Asia V và cám ơn


Thế là sau hơn 2 tuần ở VN tôi lại quay về Sydney để tiếp tục "chiến đấu" trên một “chiến tuyến” khác, quan trọng hơn và cũng gay go hơn. Nhiều khi nghĩ những áp lực hữu hình và vô hình trong công việc chính là thủ phạm làm mình … giảm tuổi thọ. Điều này thì có chứng cứ hẳn hoi.


Nhìn lại chuyến đi vừa qua, tôi nghĩ mình có thể hài lòng. Ai cũng nói Hội nghị Strong Bone Asia lần 5 thành công tốt đẹp, vì số người tham dự, vì chương trình khoa học tốt, và đặc biệt là workshop quá thành công. Tôi cũng chủ quan nghĩ như thế. Năm nào tôi cũng cố gắng làm cho chương trình hội nghị mới hơn, khoa học hơn, và quan trọng là hàm lượng Việt Nam nhiều hơn. Tôi rất "kị" loại hội nghị chỉ nói chuyện review mà dữ liệu là của người khác. Năm nay tôi nghĩ hội nghị đã đạt 3 tiêu chí trên.

Tôi phải nhân dịp này cảm ơn các bạn đã dịch mấy trăm slides trong workshop DXA cho đồng nghiệp. Không có tập tài liệu đó tôi nghĩ workshop sẽ rất khó khăn. Đóng góp của Bs Thục Lan (Bv Nhân dân 115) và Bs Nguyễn Đình Khoa (Bv Chợ Rẫy) trong việc chuyển ngữ rất đáng được tuyên dương.

Tôi cũng cám ơn các báo cáo viên, các khách mời (invited speakers) từ các nước ASEAN và Úc đã đóng góp một cách nhiệt tình cho hội nghị. Tôi và Gs Lê Anh Thư sẽ có thư cám ơn đến các bạn khi tôi về đến Sydney. Nhưng ở đây, tôi muốn cám ơn bạn tôi, Gs Chatlert Pongchaiyakul, và các bạn Thái Lan đã ủng hộ hoàn toàn vô điều kiện cho hội nghị (không có honorarium, chẳng vé máy bay, không tiền khách sạn). Tấm lòng của các bạn làm tôi cảm kích pha lẫn ... xấu hổ. Năm nay vì tình hình tài chính không mấy khả quan (chắc do tình hình kinh tế nói chung) nên các công ti “đại gia” hỗ trợ rất khiêm tốn, và điều này giải thích khách mời không có honorarium.

Dĩ nhiên, sự hỗ trợ của các công ti dược khác cần phải ghi nhận ở đây. Bridge Healthcare đã song hành cùng Hội loãng xương ngay từ năm đầu tiên. Lần này Bridge Healthcare là nhà tài trợ bạch kim của hội nghị Strong Bone Asia lần thứ 5. Trong bối cảnh khó khăn năm nay, không có sự hỗ trợ của Bridge Healthcare là không có hội nghị. Ngoài Bridge Healthcare ra, tôi cũng chân thành cám ơn các nhà tài trợ vàng Anlene và Abbott, tài trợ bạc ECO, và đồng tài trợ MSD, sanofi, Eisai, Hassan, và Mega. Sự hỗ trợ của các bạn là một nguồn khích lệ rất lớn đến Hội nghị và chúng tôi trong ban tổ chức.

Riêng cá nhân tôi, trước và sau hội nghị, thì còn bận rộn hơn nữa. Tôi giảng 31 bài ở Viện Y học Đinh Tiên Hoàng ở Hà Nội, 16 bài trong 2 chương trình CME ở Sài Gòn và Vũng Tàu. Chính tôi cũng không ngờ mình có sức nói nhiều như thế! Suýt nữa là bị viêm cổ họng, nhưng trời thương nên vẫn còn sống sót.  Qua những lớp học này tôi có dịp gặp lại các bạn cũ, nhưng cũng làm quen với nhiều bạn mới. Những thịnh tình của các bạn dành cho tôi thật trân quí. Nói lời cám ơn e rằng sáo ngữ, nhưng tôi vẫn cứ nói: chân thành cám ơn các bạn. Tôi hứa sẽ làm hết sức mình để giúp các bạn, nếu có dịp. Tôi còn hàng loạt email phải trả lời, nhưng cần phải có thời gian. Bạn nào gửi email xin kiên nhẫn chờ nhé, chứ sức người có hạn và tôi còn nhiều việc khác phải làm (chứ không phải chỉ trả lời email).

Xin chia sẻ một bức ảnh tâm đắc của tôi trong đêm dạ tiệc. Đây là điệu múa làm nhiều khách mê hồn :-). Không biết đoàn múa nào, nhưng chắc là đoàn múa địa phương (Đà Nẵng).
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Tiêm vắcxin và sự đồng thuận

Vắcxin Quinvaxem lại trở thành một mối quan tâm của công chúng. Nhưng lần này chúng ta có thêm dữ liệu để có thể bình tỉnh đánh giá lợi và hại của vắcxin. Theo tôi, cần phải phân biệt giữa hiệu quả trong cộng đồng và nguy cơ của một cá nhân. Một khía cạnh khác hình như hay bị xem nhẹ là sự đồng thuận của thân nhân trẻ em được tiêm vắcxin. 

Có thể nói ngay rằng các chương trình tiêm vắcxin ở qui mô cộng đồng là một trong những thành tựu đáng kể của y tế công cộng. Chứng cứ khoa học chỉ ra rõ ràng rằng các chương trình tiêm chủng giảm nguy cơ tử vong ở trẻ em tại các nước phát triển. Nhưng vấn đề là tiêm chủng vắcxin trong cộng đồng đòi hỏi nhiều liều vắcxin và có thể không tiện lợi. Trong thời gian gần đây, do phát triển của công nghệ sinh học, nên chúng ta có những “vắcxin tổng hợp” như DTP và Quinvaxem. Vắcxin DPT như tên gọi là vắcxin phòng chống các bệnh bạch hầu, uốn ván, và ho gà. Quinvaxem là một vắcxin tổng hợp “năm trong một”, chẳng những phòng chống bạch hầu, uốn ván, ho gà, mà còn phòng chống viêm gan và viêm màng não mủ do Hib, vốn khá phổ biến ở Việt Nam.

Ít nghiên cứu 
Một điều hơi ngạc nhiên là rất ít nghiên cứu về hiệu quả và an toàn của Quinvaxem trong y văn. Tìm trong thư viện y khoa toàn cầu (Pubmed) tôi chỉ thấy khoảng 5 bài nghiên cứu liên quan đến Quinvaxem, trong đó chỉ có một nghiên cứu về hiệu quả và an toàn của vắcxin này ở trẻ em Ấn Độ. Công trình nghiên cứu ở Ấn Độ trên 161 trẻ em 6-14 tuần sau khi sinh cho thấy Quinvaxem an toàn và có hiệu quả tốt. Một nghiên cứu trên 120 trẻ em ở Cao Lãnh vào năm 2009-2011 cho thấy cũng cho thấy vắcxin Quinvaxem có hiệu quả rất tốt.

Tuy nhiên, những nghiên cứu trên là nghiên cứu lâm sàng, tức có sự giám sát tốt của bác sĩ và y tá trong thời gian theo dõi. Để biết tính an toàn của Quinvaxem trong cộng đồng (nơi mà ít có sự giám sát có hệ thống), các nhà khoa học đã triển khai một nghiên cứu ở Guatamala trên 3000 trẻ em. Nghiên cứu này cho thấy, tính chung, tỉ lệ có phản ứng là 1288 ca (tức 43%), nhưng chỉ có 8 ca được xem là nghiêm trọng và có liên quan đến vắcxin Quinvaxem. Những kết quả trên cho thấy Quinvaxem vừa có hiệu quả và vừa an toàn. Thật ra, Tổ chức Y tế Thế giới đã phê chuẩn Quinvaxem cho các nước đang phát triển từ năm 2006.

Tai biến : quần thể và cá nhân 

Nhưng gần đây, khi triển khai Quinvaxem ở Việt Nam, tính an toàn của vắcxin này trở thành một mối quan tâm. Theo một quan chức y tế, tính từ tháng 10/2010 đến nay, “đã có 43 trẻ em bị phản ứng nặng sau khi tiêm Quinvaxem, trong đó 27 trường hợp tử vong không liên quan đến tiêm chủng, 9 trường hợp có thể xem làm là liên quan nhưng đều hồi phục. Các trường hợp khác có thể liên quan nhưng chưa xác định được nguyên nhân, chưa đủ thông tin để kết luận.” Nhưng tiết lộ đáng quan tâm là tính trung bình mỗi năm có khoảng 10 trẻ em tử vong sau khi dùng vắcxin.

Vấn đề đặt ra là tại sao trong các nghiên cứu lâm sàng thì Quinvaxem tỏ ra rất an toàn, nhưng khi áp dụng đại trà thì lại xảy ra tai biến? Trong nghiên cứu lâm sàng, các nhà khoa học tuyển chọn đối tượng theo những tiêu chuẩn định trước để đảm bảo đối tượng thích hợp cho nghiên cứu. Nhưng khi triển khai trong cộng đồng thì các giới chức y tế khó có thể kiểm soát được các tiêu chuẩn như trong nghiên cứu lâm sàng. Do đó, rất có thể tai biến xảy ra trong thời gian qua một phần là do việc tuyển chọn đối tượng cho dùng vắcxin chưa được tốt.

Nhưng dù lí do gì thì 10 ca tử vong mỗi năm phải là một hiện tượng đáng quan tâm. Nếu ở Úc hay bất cứ nước phát triển nào mà xảy ra những ca tử vong như thế, bất kể có hay không có liên quan đến vắcxin, thì chắc chắn đã làm rúng động hệ thống y tế và chính trị, chứ không chỉ là một câu nói suông. Có lẽ đối với những chuyên gia dịch tễ học 10 ca quá nhỏ so với hàng triệu trẻ em được tiêm chủng hàng năm. Nhưng trong thực tế thì 10 ca tử vong có nghĩa là 10 cái tang cho 10 gia đình hàng năm. Và, những cái tang đó không có cách gì định lượng được nỗi đau và sự mất mát trong tương lai.

Cần phân biệt giữa quần thể (cộng đồng) và cá nhân. Bởi vì vắcxin được bào chế để phòng chống bệnh, cho nên hiệu quả và an toàn của vắcxin chỉ có thể đánh giá qua cộng đồng, qua một nhóm đối tượng. Điều trớ trêu là kết quả nghiên cứu trên một cộng đồng có thể không áp dụng cho một cá nhân. Các quan chức có thể lí giải rằng tỉ lệ phản ứng nặng và tử vong sau khi tiêm vắcxin là rất thấp, như 10 trên hàng triệu người, và đó là một thực tế. Người ta có thể nói về tỉ lệ trong một quần thể, nhưng không thể nói tỉ lệ cho một cá nhân. Quần thể có mẫu số, còn một cá nhân thì mẫu số là 1. Một cá nhân hoặc là có, hoặc là không có phản ứng. Nhưng khi tử vong xảy đến một cá nhân thì tỉ lệ đó là 100%! Do đó, dùng dữ liệu thống kê của một quần thể để nói về tính an toàn cho một cá nhân chẳng những thiếu hợp lí mà còn … vô cảm.

Đồng thuận sáng suốt 

Cá nhân có quyền lựa chọn. Quyền lựa chọn đó được thể hiện qua văn bản đồng thuận khi tiêm vắcxin. Văn bản đó tiếng Anh gọi là informed consent, tạm dịch là đồng thuận sáng suốt. Sự đồng thuận hay lựa chọn của bệnh nhân (hay đối tượng tiêm chủng ngừa) được mô tả trong bản Tuyên ngôn Helsinki. Tuyên ngôn Helsinki nói rất rõ rằng lợi ích của con người phải được đặt trước và trên lợi ích của khoa học và xã hội. Nhưng hình như trong thời gian qua, ít ai chú ý đến khía cạnh quan trọng này. Một phần là nhân viên y tế quá bận rộn không có thì giờ giải thích, một phần khác là người ta (giới chức y tế và công chúng) chưa ý thức đầy đủ vấn đề đồng thuận sáng suốt.

Các chuyên gia về y đức lí giải rằng quyết định tiêm chủng phải là quyết định của đối tượng. Cố nhiên, trẻ em 5-10 tuần tuổi thì không có khả năng để kí tên đồng thuận cho tiêm vắcxin, cho nên người đồng thuận phải là cha mẹ hay ai đó được ủy quyền. Cần lưu ý là đồng thuận sáng suốt, tức là đồng thuận dựa vào thông tin. Điều này có nghĩa là y sĩ phải cung cấp thông tin về lợi ích và rủi ro khi tiêm vắcxin. Rủi ro kể cả phản ứng nhẹ, phản ứng nặng, và tử vong. Không chỉ cung cấp thông tin, mà thông tin phải được thực chứng từ các nghiên cứu khoa học.

Cần nghiên cứu khoa học 

Do đó, chúng ta rất cần nhiều nghiên cứu khoa học về hiệu quả và an toàn của vắcxin. Thật ra, theo logic thông thường, một khi vắcxin đã được đưa ra sử dụng trong cộng đồng thì vẫn cần phải có giám sát tốt. Trong môi trường nghiên cứu lâm sàng, đối tượng (trẻ em) được theo dõi kĩ, nên tai biến hay phản ứng phụ có thể ít hơn trong môi trường cộng đồng khi vắcxin được dùng một cách đại trà. Cần phải thiết lập một hệ thống giám sát an toàn của vắcxin (tiếng Anh còn gọi là post marketing surveillance). Trong chương trình giám sát, các số liệu về phản ứng phụ, tai biến, lợi ích và nguy cơ lâu dài của thuốc cần phải được thu thập và báo cáo, để sau đó có thể đúc kết được giá trị "thật" của thuốc.

Trong thời đại y học thực chứng, ý kiến của các chuyên gia hay của các tổ chức quốc tế (cho dù là Tổ chức Y tế Thế giới) tuy quan trọng, nhưng không thể quan trọng hơn chứng cứ. Các chuyên gia cho rằng các trường hợp tai biến trong thời gian qua không có liên quan đến Quinvaxem, nhưng công chúng cần chứng cứ và đánh giá khách quan của các chuyên gia độc lập (chứ không phải của Tổ chức Y tế Thế giới). Công chúng cần chứng cứ về tính hiệu quả và an toàn của vắcxin ở người Việt Nam, chứ không phải ở người nước ngoài. Trong thực tế, xác định nguyên nhân tử vong không phải dễ dàng chút nào. Đối với nhiều loại thuốc, cho dù tai biến xảy ra có thể chẳng liên quan gì đến thuốc, nhưng vẫn phải có cảnh báo cho bệnh nhân biết. Tương tự, có thể những tai biến trong thời gian qua chẳng liên quan gì đến Quinvaxem, nhưng thiết nghĩ một cảnh báo về những tai biến đó cần phải được nói cho công chúng biết.

Trong bối cảnh có khá nhiều tai biến và tử vong, có lẽ biện pháp thích ứng nhất là ngưng sử dụng Quinvaxem một thời gian. Trong thời gian đó, cần phải có những nghiên cứu qui mô để đánh giá tính an toàn của vắcxin, và xác định các tiêu chuẩn chọn đối tượng thích hợp cho Quinvaxem. Nhưng nói cho cùng quyết định dùng hay không dùng Quinvaxem cho trẻ em là quyền quyết định cá nhân của cha mẹ, và quyền đó cần phải được tôn trọng.


Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác