Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Qui trình và tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo sư của TDTU


Thế là Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU) đã công bố qui trình và tiêu chuẩn bổ nhiệm/đề bạt các vị trí giáo sư của Trường, tiếng Anh và tiếng Việt. Bản tiếng Anh dành cho người nước ngoài muốn tìm cơ hội ở Trường.


Một chút ngạc nhiên là họ không đưa các tài liệu này lên trang đầu của website của Trường. Nhưng có còn hơn không. Bây giờ thì mọi chuyện khá minh bạch rồi. Thế là những ai muốn tham gia vào hành trình mới của Trường có thể tự mình so sánh và tìm cơ hội.

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Top 5 phần mềm diệt virus miễn phí tốt nhất 2016

_CTPG_ sẽ giới thiệu cho bạn 5 phần mềm diệt virus miễn phí tốt nhất 2016 nhằm cung cấp cho bạn những lựa chọn tốt nhất trong việc sử dụng các phần mềm phòng và chống sự xâm hại của virus đổi với máy tính của mình.

Top 5 phần mềm diệt virus miễn phí tốt nhất 2015
Read more »
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Facebook thử nghiệm nút like mới Reactions với nhiều biểu tượng

Facebook thử nghiệm nút like mới Reactions với nhiều biểu tượng

Cách mà bạn sử dụng nút Like của Facebook đang thay đổi. Và mới đây, Engadget cho biết, Facebook đang tiến hành thử nghiệm một nút Like mới có tên gọi là Reactions cho nhiều người dùng. Với Reactions, không chỉ còn là nút Like không, bạn còn có nhiều tùy chọn các biểu tượng khác để thay thế nút Like.

Read more »
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Cách bỏ gạch đỏ trong Word/Excel/PowerPoint

Chắc hẳn ai sử dụng Word/Excel/PowerPoint đều gặp phải trường hợp xuất hiện các gạch đỏ bên dưới chữ mỗi lần gõ. Thật sự điều này sẽ gây khó chịu cho người dùng, vừa mất thẩm mỹ lại vướng víu trong quá trình gõ.

Cách bỏ gạch đỏ trong Word/Excel/PowerPoint
Read more »
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

Cách gỡ bỏ phần mềm trên máy tính Windows

Trong quá trình sử dụng máy tính, có thể bạn đã cài một số phần mềm rác hoặc có rất nhiều phần mềm mà bạn không muốn sử dụng hoặc ít sử dụng. Vậy nên hãy gỡ bỏ phần mềm đó đi, để lấy lại không gian lưu trữ cũng như tránh những phiền toái trong quá trình sử dụng máy tính.

Cách gỡ bỏ phần mềm trên máy tính Windows
Read more »
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Cuộc đời và sự nghiệp của Đồ U U (Tu Youyou)


Có thể nói rằng trong 3 người được trao giải Nobel y học năm nay, cụ bà Đồ U U (Youyou Tu) là người thu hút nhiều chú ý hơn hai người đồng nghiệp giáo sư từ hai nước giàu có hơn (William Campbell và Satoshi Omura). Tôi nghĩ điều này cũng dễ hiểu, vì bà là người mang quốc tịch Tàu đầu tiên được trao giải thưởng cao quí này, và cuộc đời & sự nghiệp của bà cũng rất khác so với các đồng nghiệp trong giới khoa học quốc tế. Tôi mới đọc hai bài về những công trình của bà (1), và có cảm hứng viết vài dòng chia xẻ cùng các bạn.





Người xưa nay hiếm

Bà Đồ U U bây giờ là người chiếm kỉ lục thứ 2 về độ tuổi khi được trao giải Nobel y sinh học. Trước đây, bà Peyton Rous được trao giải Nobel y sinh học năm 1966, lúc đó bà đã 87 tuổi, và giữ kỉ lục này cho đến năm nay. Bà Đồ U U sinh ngày 30/12/1930, năm nay đã 85 tuổi. Khi trao giải cho bà, Uỷ ban Nobel không liên lạc được bà, vì chẳng ai biết số điện thoại. Khi liên lạc được và nhận được tin, bà thản nhiên nói "Tôi đã quá già cho cái giải này". Cần nói thêm là trước đây 4 năm, năm 2011, bà được trao giải Lasker ~ DeBakey của Mĩ, và lúc đó bà đã 81 tuổi.

Bà Đồ U U cũng là một trong những nữ khoa học hiếm hoi được trao giải này. Trong y khoa, có khoảng 40% nhà khoa học là nữ giới, nhưng trong số 106 người được trao giải Nobel thì chỉ có 12 người là nữ.

Xuất thân bình dân

Cuộc đời và sự nghiệp của bà Đồ là một câu chuyện rất thú vị. Trong bài viết về bà Đồ nhân dịp bà nhân giải Lasker ~ DeBakey, tác giả chỉ cho biết bà xuất thân từ một gia đình lao động bình thường, thân mẫu là nội trợ, và thân phụ là một viên chức cấp thấp. Gia đình có 5 người con, và bà là con gái duy nhất.

Bà thi vào Đại học Bắc Kinh năm 1951, và tốt nghiệp cử nhân dược học năm 1955. Sau khi tốt nghiệp, cũng như bao nhiêu người thời đó, bà được "phân công" về công tác ở Viện y học cổ truyền. Bà cho biết thời gian đó, Viện y học cổ truyền cố công nghiên cứu tìm ra những thuốc để điều trị các bệnh phổ biến như nhiễm trùng, gan, thận, tiêu hoá. Bà quyết chí theo đuổi sự nghiệp y học cổ truyền, một phần là do thân phụ bà có chút kiến thức về lĩnh vực này, và một phần lớn khác là khi còn nhỏ bà thấy người dân chung quanh dùng những bài thuốc dân gian xem ra rất có hiệu quả. Bà muốn dùng kiến thức dược học để tìm hiểu thêm về cơ chế của các bài thuốc cổ truyền.

Dự án 523

Nhưng sự nghiệp của bà rẽ sang một hướng khác khi Dự Án 523 ra đời. Nguồn gốc của Dự án 523 là từ cuộc chiến chống Mĩ của miền Bắc Việt Nam, và lúc đó Tàu là đồng minh và cũng là người đỡ đầu cho "người em bé nhỏ". Lúc đó, phía VN than phiền là có quá nhiều bộ đội hi sinh trong rừng vì bệnh sốt rét, và hỏi Chu Ân Lai có cách gì giúp không. Chu Ân Lai báo cho Mao Trạch Đông, và Mao thấy đây là một "nhiệm vụ chính trị" giúp đàn em Bắc Việt Nam. Mao và Chu thành lập dự án tìm thuốc điều trị bệnh sốt rét vào ngày 25/3/1967. Do đó, theo truyền thống cộng sản, họ lấy bí số 523 để đặt tên cho dự án bí mật này. Bà Đồ U U được chỉ định đứng đầu Dự Án 523.

Đến đây thì thiết nghĩ vài dòng về bệnh sốt rét chắc cũng cần thiết để đặt câu chuyện trong bối cảnh. Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm quan trọng, vì nó là thủ phạm gây tử vong cho hơn 500000 nạn nhân mỗi năm. Bệnh này dĩ nhiên không mới, vì y văn đã ghi nhận từ 2700 trước Công Nguyên. Trước đó, người ta không có phương pháp điều trị, và bệnh nhân chỉ đơn giản chờ chết!

Tiến bộ về chinh phục bệnh sốt rét bắt đầu vào thập niên 1880s. Vào thời đó, Bs người Tô Cách Lan là Ronald Ross chứng minh rằng muỗi là thủ phạm lan truyền bệnh sốt rét, và ông đã hệ thống hoá toàn bộ chu trình gây nhiễm của muỗi. Ông được trao giải Nobel cho công trình nghiên cứu này vào năm 1902. Sau ông là một bác sĩ người Pháp Charles Laveran chứng minh rằng kí sinh trong rbc từ bệnh nhân sốt rét, và do đó protist chính là thủ phạm của bệnh. Năm 1907, Leveran được trao giải Nobel y sinh học vì công trình đó. Nay thì chúng ta biết rằng đa số những bệnh nhân sốt rét là do 4 loài kí sinh Plasmodium: P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P. Malariae.

Qua hiểu biết về cơ chế gây bệnh của các loài kí sinh trên, các nhà khoa học đã phát triển được thuốc điều trị. Thuốc đầu tiên là quinine, bào chế từ vỏ cây canh-ki-na (cinchona), hay thấy ở Nam Mĩ. Thuốc này được dùng cho đến năm 1940. Sau đó, tập đoàn dược Bayer bào chế thuốc chloroquine, thoạt đầu có hiệu quả cao hơn quinine, và được quân đội Mĩ đưa vào sử dụng trong Thế chiến thứ II.

Dựa vào y văn cổ

Quay lại Dự án 523, bà Đồ U U và 3 đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu bắt đầu bằng cách đọc y văn cổ. Họ thu thập được gần 2000 bài thuốc, và sau cùng thì khu trú chỉ 640 loại dược thảo, và trong số này chỉ có một số ít là có triển vọng. Một trong những hợp chất có triển vọng nhất là Artemisia Annua (hay cây ngải), mà người Tàu đã dùng để điều trị nhiều bệnh qua hàng ngàn năm. Một trong những y văn cổ nêu đích danh cây ngải được dùng cho điều trị sốt.

Sau nhiều lần thất bại trong việc chiết xuất và thí nghiệm, cuối cùng thì nhóm nghiên cứu cũng đạt được thành công bước đầu trên chuột. Họ dùng ethanol để chiết xuất hoạt chất từ cây ngải, và khi thí nghiệm trên chuột thì thấy nó có khả năng ức chế rất tốt. Nhóm nghiên cứu nhận được điện chúc mừng của Thủ tướng Chu Ân Lai. Nhưng sau đó, nhóm nghiên cứu thử thêm trên khỉ và một nhóm chuột khác thì kết quả không khả quan, và ai cũng ngạc nhiên, chẳng hiểu chuyện gì xảy ra.

Bà Đồ cho biết bà lại tìm cổ thư để đọc. Bà phát hiện 1 đoạn ngắn trong y văn cổ viết rằng "Một bài thuốc khác là: một nhóm cây ngải, ngâm trong 2.2 lít nước, bóp chặt lại, lấy nước ép, và uống hết nước ép." Từ câu văn này, bà Đồ nghĩ rằng quá trình chiết xuất dùng nhiệt độ cao chắc có vấn đề vì làm tan biến hết hoạt chất, và hạ nhiệt độ có thể giúp giữ lại hoạt chất. Bà thiết kế lại thí nghiệm, và lại thử nghiệm trên chuột và khỉ, và lần này thì khả năng ức chế là 100%! Đây là một sự đột phá đầu tiên.

Nhưng thời đó chẳng ai nghĩ đến việc công bố kết quả, vì đây là một dự án quân sự và bí mật. Vả lại, cho dù muốn công bố, bà cũng chẳng biết công bố ở đâu trong khi Cách mạng Văn hoá đang hoành hành cả nước.

Vấn đề đặt ra là thuốc có hiệu quả trên người hay không? Để trả lời câu hỏi này, bà và cộng sự ... tự thí nghiệm. Họ tự gây sốt rét và uống thử thuốc. Kết quả y như ý muốn. Nhưng để tìm hiểu thêm, bà và cộng sự đi Hải Nam, nơi có nhiều bệnh nhân sốt rét, để thử nghiệm. Họ làm thử nghiệm trên 21 bệnh nhân bị nhiễm P. vivax và P. falciparum, và kết quả cũng rất ư khả quan. Tất cả 21 bệnh nhân hết bệnh trong vòng chỉ 2 tuần. Sau đó, họ còn dùng mô hình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT) để thử nghiệm thêm, và kết quả cũng rất tốt. Bà cho biết sau chuyến công tác ở Hải Nam về, đứa con gái không nhận ra bà vì đen đúa quá sau mấy tháng trời phơi nắng. Còn chồng bà thì đi cải tạo ở vùng quê trong cơn lốc Cách mạng Văn hoá.

Thành quả của họ được tập đoàn dược Roche (Thuỵ Sĩ) chú ý. Ts Keith Arnold, lúc đó là một chuyên gia của Trung tâm thí nghiệm của Roche ở vùng Viễn Đông, tiến hành một công trình RCT qui mô lớn và có hệ thống hơn. Năm 1982, họ công bố kết quả nghiên cứu về hiệu quả của Artemisinin trên tập san y khoa lừng danh là Lancet. Ngạc nhiên thay, bài báo trên Lancet không có tên của Đồ U U! Sau khi thành công với Artemisinin, nhóm nghiên cứu của Arnold tiếp tục thử nghiệm bằng cách điều trị với Artemisinin + mefloquine hoặc Fansidar, và kết quả thậm chí còn tốt hơn so với Artemisinin. Cho đến nay thì phương pháp điều trị phổ biến nhất là dùng Artemisinin cùng với một trong hai loại thuốc trên.

Người khiêm nhường

Dù thành tựu quan trọng như thế, bà Đồ U U là người rất khiêm nhường và lúc nào cũng nhỏ nhẹ. Trong một hội nghị quốc tế về bệnh sốt rét ở Thượng Hải vào năm 2005, một chuyên gia người Mĩ nổi tiếng về bệnh này là Louis Miller hỏi đồng nghiệp ai là người phát hiện Artemisinin, thì ngạc nhiên thay, chẳng ai biết! Thế là Miller và đồng nghiệp người Mĩ gốc Hoa là Xinzhuan Su bắt đầu tìm hiểu quá khứ, và họ phát hiện chính bà Đồ U U là người có công đầu. Nhưng họ cho biết rất khó khai thác thông tin từ bà, vì bà không nói về mình (dù qua người con rể là bác sĩ ở Mĩ làm thông dịch). Hai nhà nghiên cứu này phát hiện rằng năm 1977 bà Đồ và nhóm nghiên cứu mới công bố kết quả đầu tiên trên một tập san y học Tàu, và bài báo không có tác giả cá nhân mà chỉ tác giả tập thể, theo cách làm của các nước cộng sản thời đó là tập thể quan trọng hơn cá nhân.

Nhưng lịch sử khoa học khá công bằng. Các nhà khoa học Mĩ nhận ra được tầm quan trọng của khám phá, và đã giúp bà làm hồ sơ để được trao giải Lasker ~ DeBakey. Năm 2011, bà được trao giải thưởng danh giá này, và năm nay thì Uỷ ban giải thưởng của Viện Karolinska quyết định trao giải thưởng Nobel Y sinh học 2015. Như vậy, Bà Đồ U U là người thứ 3 được trao giải Nobel vì công trình liên quan đến bệnh sốt rét.

Nhưng giải thưởng Nobel cho bà Đồ U U cũng xảy ra một sự cố. Số là Ts Keith Arnold (người làm RCT như tôi đề cập trên, và người dịch Dự án 523 sang tiếng Anh) viết thư phản đối rằng việc trao giải Nobel chỉ cho bà Đồ U U là một sự bất công. Theo ông Arnold, bà Đồ U U rõ ràng là xứng đáng được giải, nhưng hai người cộng sự khác của bà là Luo ZheyuanLi Guoqiaocũng đáng được giải. Một chuyên gia nổi tiếng khác là Gs Nicholas J White cũng đồng ý là Luo Zheyuan và Li Guoqiao nên được ghi công. Tuy nhiên, Uỷ ban giải Nobel có nghe họ hay không là chuyện khác, và Uỷ ban này không có tiền lệ trao giải cho hơn 3 người.

Nếu tìm trong Pubmed về những công trình của bà Đồ U U, bạn sẽ thất vọng vì chẳng thấy đâu cả. Bà là người được mệnh danh là "Giáo sư 3 Không": Không có bằng sau đại học, không có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học ở nước ngoài, và không là thành viên của bất cứ viện hàn lâm nào. Dù là giáo sư của "Ba Không", nhưng công trình của bà giúp cứu sống hàng triệu người trên thế giới, và khoa học đã rất công bằng với đóng góp của bà.

=====


Tên của bà (Tu Youyou) nghe là lạ, nhưng có câu chuyện đằng sau cái tên đó (Youyou). Trong một trả lời phỏng vấn trên tập san JCI (qua thông dịch của người con rể) bà cho biết cái tên đó là do thân phụ đặt cho. Lí do là thế này: Ông nói trong sách cổ của Tàu có đoạn mô tả khi con nai nó ăn cây qinghao (thanh hao hoa vàng, tức thuộc giống cây ngải), nó phát ra tiếng kêu "yu yu". Không ngờ cái tên đó gắn liền với định mệnh của bà, vì khám phá Artemisinin là từ cây qinghao!

(1) Chú thích: Bài này lấy thông tin chủ yếu từ "From branch to bedside: Youyou Tu is awarded the 2011 Lasker~DeBakey Clinical Medical Research Award for discovering artemisinin as a treatment for malaria" (JCI 2011;111:3768-3773); "Artemisinin: Discovery from the Chinese Herbal Garden" của Louis Miller và X. Su (Cell 2011;146:855-858).

Có thể đọc thêm "Giải Nobel y sinh học - nhìn lại quãng đường 100 năm" của tôi (nhưng website đã xoá tên tác giả):

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Giải Nobel y sinh học 2015: Ý nghĩa về bệnh nhiễm và y học cổ truyền


Trong một thời gian dài, những người trong Hội đồng giải Nobel ở Karolinska đã đi ra ngoài tôn chỉ của ông Nobel qua việc trao giải thưởng này cho nhiều công trình chẳng đem lại lợi ích gì cho bệnh nhân và cộng đồng. Nhưng năm nay thì khác, họ trao giải cho 2 công trình liên quan đến bệnh do kí sinh trùng gây ra: bệnh giun chỉ và sốt rét (1). Tôi gọi đây là bước đầu trong hành trình về lại với lí tưởng của giải Nobel y sinh học.




Lí tưởng của giải Nobel y sinh học, theo di chúc của ông Alfred Nobel, là trao giải thưởng cho những ai đem lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại. Nhìn qua các công trình khoa học được trao giải này cũng có thể cho ra một một khái niệm về quá trình tiến bộ của y học theo khuynh hướng mà tôi vừa nêu trên. Từ những nghiên cứu có tính lâm sàng tương đối “sơ sài” (so với trình độ kĩ thuật ngày nay), nghiên cứu y khoa đã tiến sâu vào lĩnh vực cơ bản nhất của con người như di truyền phân tử học và sinh học phân tử. Năm 1901, ông Emil Adolf von Behring (người Đức) đoạt giải này vì đã các công trình nghiên cứu và chữa trị bệnh bạch hầu. Năm 1902, giải thưởng được trao cho một nhà khoa học người Anh, ông Ronald Ross vì công trình nghiên cứu liên quan tới bệnh sốt rét. Những năm sau đó, các khoa học được tặng giải thưởng nhờ vào nghiên cứu liên quan tới bệnh lao (1905; Robert Koch, người Đức), sốt ban (typhus) (1928; Charles Nicolle, người Pháp); phân loại máu (1930; Karl Landsteiner, người Mĩ), bệnh truyền nhiễm (1945; Alexender Fleming, Mĩ; Ernst Boris Chain, Anh; Howard Walter Florey, Úc), sốt vàng (1951; Max Theiler, người Mĩ), chữa trị bệnh lao bằng thuốc streptomycin (1952; Salman Abraham Waksman, Mĩ).

Bắt đầu từ năm 1958, nghiên cứu về di truyền học đã được sự chú ý của Hàn lâm viện Thụy Điển qua việc trao giải thưởng cho ba nhà khoa học người Mĩ, George Wells Beadle, Edward Lawrie Tatum, và Joshua Lederberg, vì đã có công khám phá ra một qui luật quan trọng trong di truyền học vi khuẩn (genetic recombinant). Năm 1961, ba nhà khoa học Francis Harry Compton Crick (Anh), James Dewey Watson (Mĩ) và Maurice Hugh Frederick Wilkins (Anh) chiếm giải Nobel do khám phá nổi tiếng về cấu trúc DNA, làm tiền đề cho hàng triệu nghiên cứu và tiến bộ về sinh học y khoa sau này.

Kể từ đó, giải thưởng nghiên về các công trình mang bản chất sinh học phân tử và di truyền. Năm 1978, Hàn lâm viện Thụy Điển trao giải thưởng cho ba nhà khoa học Werner Arber (Thụy sĩ), Daniel Nathans (Mĩ) và Hamilton O. Smith (Mĩ) do đã có công khám phá ra các enzymes và những ứng dụng vào nghiên cứu di truyền học. Sự tiến bộ trong sinh học phân tử và di truyền học những năm gần đây phần lớn nhờ vào các kĩ thuật PCR (polymerase chain reaction) do hai nhà khoa học Mĩ (Kary Mullis) và Canada (Michael Smith) khám phá, và đã được trao giải thưởng Nobel về hóa học vào năm 1993. Kể từ năm 1999 cho đến nay thì giải này vẫn được trao tặng cho một công trình mang nặng tính chất sinh học phân tử, nhất là các công trình liên quan đến tế bào học. Nói tóm lại tính từ 1950s đến nay, giải Nobel y sinh học chỉ trao cho các công trình nghiên cứu cơ bản, chứ chưa có công trình nghiên cứu lâm sàng nào.

Mãi đến năm 2005, Hàn lâm viện Thụy Điển làm cho giới khoa học ngạc nhiên bằng cách trao giải thưởng cao quí này cho một công trình nghiên cứu liên quan đến bệnh viêm, một công trình mang tính nghiên cứu lâm sàng. Đây quả là một thể hiện “về nguồn”, về nguồn bệnh viêm. Đến năm nay (2015), họ quyết định trao giải cho hai công trình nghiên cứu liên quan đến hai bệnh do kí sinh trùng gây ra: đó là bện giun chỉ và sốt rét. Hai bệnh này hiện đang hoành hành hàng trăm triệu người trên thế giới, đặc biệt là các nước Phi châu, Nam Mĩ, và Đông Nam Á. Có lẽ qua giải thưởng này, Hàn lâm viện Thuỵ Điển muốn nhắc nhở chúng ta rằng thế giới vẫn còn đang phải đối phó với những bệnh truyền nhiễm, bệnh do kí sinh trùng gây ra.

Tôi thấy một điều hay của giải thưởng năm nay là cả 3 người được trao giải đều khá là khiêm tốn. Họ xuất thân từ những đại học không có tên tuổi như Đại học Drew (Gs William Campbell) hay Đại học Kitasato (Gs Satoshi Omura), hay từ một viện y học cổ truyền (bà Youyou Tu). Họ không phải là những tên tuổi sáng chói trên trường khoa học quốc tế, dù cả ba đều trên 80 tuổi. Họ không có những công trình trên những tập san “xa xỉ” như Nature, Cell, hay Science. Ngược lại, những công trình của họ xuất hiện trên những tập san khiêm tốn, thậm chí có người chẳng có bao nhiêu bài báo khoa học như bà Youyou Tu (Đồ U U) vì bà làm việc trong bí mật. Cũng cần nói thêm là bà Đồ U U chẳng được Nhà nước Trung Quốc trao tặng bất cứ giải thưởng nào. Tất cả 3 nhà khoa học đều làm việc trong thầm lặng, nhưng đem lại lợi ích cho hàng trăm triệu người trên hành tinh này. Họ quả thật là những anh hùng thầm lặng.

Tôi nghĩ giải thưởng năm nay còn là một vinh danh cho y học cổ truyền. Công trình chiết xuất Artemisinin từ cây ngải của bà Đồ U U chính là y học cổ truyền. Bà dựa vào y văn cổ của Trung Quốc để tìm dược thảo chữa trị bệnh sốt rét. Phát minh và bào chế Ivermectin (của hai giáo sư Omura và Campbel) cũng có thể xem là một phần của y học cổ truyền và một phần của khoa học hiện đại. Gs Omura phát hiện chất avermectincó khả năng diệt giun chỉ và sán từ một vi sinh vật sống trong đất ở một vùng biển thuộc thị trấn Kawana.

Tôi chợt nghĩ nếu chúng ta tìm lại y văn cổ Việt Nam, chúng ta có thể khám phá ra nhiều điều hay và có ích. Với công nghệ sinh học ngày nay, đây là điều có thể -- hoàn toàn có thể.

Có một điều nhiều người không nhận ra (hay không muốn nhận ra) là trên thế giới có đến 70-80% dân số dùng y học cổ truyền để điều trị bệnh. Một nền y học cổ truyền tồn tại qua hàng ngàn năm như thế ắt phải có nhiều điều hay để chúng ta, những nhà khoa học hiện đại, tìm hiểu và khám phá. Giải thưởng Nobel y sinh học năm nay là một minh chứng và ghi nhận sự hữu ích của y học cổ truyền, và một lời nhắc nhở về mối đe doạ của bệnh do kí sinh trùng gây ra.

====



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác