Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Năm nay 2015 không có mùa nước nổi


Trân trọng giới thiệu đến các bạn một bài viết của Nhà văn (Bác sĩ) Ngô Thế Vinh viết về mùa nước nổi ở hạl ưu sông Cửu Long. Nói đúng ra là không có mùa nước nổi. Điều này thì tôi đã chứng kiến trong chuyến về Việt Nam công tác vào tháng 8 vừa qua. Theo tôi, môi sinh và sự sống còn của Sông Cửu Long là một mối đe doạ lớn nhất đến kinh tế và sự sống còn của miền Nam và Việt Nam. Tôi nghĩ các nhà quản lí cũng biết điều này, nhưng từ biết đến hành động là một hành trình khá xa …
NVT



Cửu Long giang mở chín lần cửa rộng
Dòng sông dài dữ dội bản trường ca
                                       Nguyên Sa

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
NGÔ THẾ VINH

MÙA NƯỚC NỔI NƠI ĐBSCL
     Như nhịp điệu ngàn năm của con sông Mekong, hệ sinh thái vùng châu thổ sông Cửu Long được cân bằng một cách tự nhiên với "mùa nước nổi" và "mùa nước giựt".  Theo anh Dohamide Đỗ Hải Minh, một học giả gốc người Chăm, một cây bút quen thuộc của báo Bách Khoa trước 1975, sinh ra và lớn lên ở miệt Hậu Giang Châu Đốc rất am tường về hệ sinh thái của Đồng Bằng Sông Cửu Long, thì trong bao thập niên qua, người dân Miền Tây đã quen sống với nạn ngập lụt hàng năm, hay còn gọi là mùa nước nổi, như là một hiện tượng thiên nhiên đến đều đặn theo chu kỳ. [2]

     Ngày xưa, cũng chỉ cách đây hơn 300 năm thôi, các thế hệ tiền nhân thời kỳ Nam Tiến, khi mới đến khai phá vùng ĐBSCL thường chọn sống lập nghiệp trên các khu đất cao hay còn gọi là “đất giồng” nên đến mùa nước nổi, cho dù những cánh đồng thẳng cánh cò bay biến thành biển nước mênh mông, nhưng các khu đất giồng này vẫn là vùng cư trú an toàn cho người dân và cả vô số các loài rắn. Sau này do dân số gia tăng, không còn đủ các khu "đất giồng" nên những di dân mới tới phải chọn định cư ngay trên những vùng đất mà họ có thể canh tác. Và để thích nghi, nhà cửa dọc hai bên sông rạch được cất theo kiểu nhà sàn, với chiều cao của các cây cột sàn được tính toán sao cho đến Mùa Nước Nổi, con nước đổ về không ngập lụt đến sàn nhà.

     Mùa Nước Nổi hay còn gọi là Mùa Nước Lên thường rất hiền hoà khác hẳn với các mùa lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung. Dấu hiệu "mùa nước nổi" tại vùng ĐBSCL chủ yếu là vào khoảng tháng tám Âm lịch [tháng 9 tháng 10 Dương lịch], thường được báo trước bằng những "giề" hay bè lục bình từ các cánh đồng trên đất Cam Bốt bị nước ngập, cuốn bật rễ nối đuôi nhau trôi theo dòng xuống đến phần đất Nam Việt Nam. [2]

     Mực nước hai con sông Tiền sông Hậu trong "mùa nước nổi" có đặc tính dâng cao lên từ từ rồi tràn qua các bờ sông rạch, làm ngập các cánh đồng. Nước lũ có công dụng không chỉ rửa đất rửa phèn mà còn thêm lượng phù sa như một thứ phân bón thiên nhiên "trời cho" khiến đất đai thêm phần màu mỡ, biến ĐBSCL thành vựa lúa của cả nước và Việt Nam đã từng đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng lúa gạo chỉ đứng sau Thái Lan. Trước đây vùng ĐBSCL còn có một loại lúa thiên nhiên có tên là lúa mù/ lúa sạ hay người Pháp gọi là lúa nổi/ riz flottant, có đặc tính "phóng ống" mọc rất nhanh theo mực nước dâng cao có khi đến 7, 8 mét, và khi đến mùa nước giựt thì thân cây lúa nằm rạp mình trên đất chờ gặt. Từ ngày có giống lúa Thần Nông/ HYV với năng xuất cao, lúa nổi không còn được nông dân quan tâm tới nữa.

      Thông thường, đến "mùa nước nổi", người dân Miền Tây vẫn phải canh chừng đo mực nước lên từng giờ để phản ứng kịp thời trong trường hợp con nước vượt cao quá mức bình thường hơn các năm trước. Khi áp lực nước từ thượng nguồn bớt đi, thì mực nước liền đứng lại và rồi hạ xuống rất nhanh và giới bình dân gọi là “nước giựt”. Người ta nói nước giựt, vì mực nước hạ xuống trông thấy rõ từng giờ.

     Cũng vẫn theo anh Dohamide thì hiện tượng nước nổi và nước giựt không diễn ra đồng đều cùng một lúc trên toàn vùng sông nước Cửu Long. Trên dòng nước cuồn cuộn chảy ra các cửa biển, hễ ở vùng Tân Châu, Châu Đốc nước giựt xuống thì vùng Cần Thơ, Vĩnh Long ở hạ lưu nước lại bắt đầu dâng lên, ngập tràn bờ, tràn đồng, rồi cũng lại hạ xuống, giống như hiện tượng xảy ra trong bình thông nhau. [2]

     Cùng với con nước đỏ ngầu mang đẫm phù sa, là các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng, cho đến thời kỳ nước giựt thì loại nước cỏ vàng xậm từ trong các đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá lúc nhúc từng đàn, nhất là loại cá linh, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Cho nên đến mùa nước giựt, chưa bận mùa cấy trồng, người nông dân đóng đáy bắt cá suốt dọc theo các kinh rạch này, có thời điểm trong mấy thập niên trước đây cá nhiều tới mức lưới không chịu nổi phải giở lên thả cá cho đi bớt; bằng không thì sẽ bị rách lưới. [Hình I]



Hình I: Sinh hoạt trong Mùa Nước Nổi 2000
[nguồn: photo by Ngô Thế Vinh]

     Nhưng rồi hiện tượng cân bằng sinh thái tự nhiên đó hầu như không còn nữa. Và "mùa nước nổi" nếu chưa hoàn toàn biến mất thì cũng đã giảm rất nhiều cả về tần suất lẫn cường độ. Hiện tượng đó không phải do thiên tai mà là "nhân tai" một thứ thảm hoạ môi sinh/ ecological disaster do chính con người gây ra.  

NĂM NAY KHÔNG CÓ MÙA NƯỚC NỔI
     Mới đây thôi, từ eMail một người bạn gửi cho, khi anh ấy đọc thấy trên facebook của nhà văn Nguyễn Đình Bổn, ghi nhận năm nay không có "mùa nước nổi" khiến những ai từng theo dõi con sông Mekong không thể không quan tâm. Nguyễn Đình Bổn không phải gốc gác dân ĐBSCL mà sinh quán tại Quảng Nam, sau 1975 từ tuổi nhỏ 13 theo gia đình vào sống tại một vùng quê của Miền Tây ngót 20 năm và đã nảy sinh bao nhiêu tình cảm gắn bó với vùng đất mới này. Mới đây trên trang facebook cá nhân anh viết:

     "Gần hết tháng 8 âm lịch, cậu em vợ lên chơi, hỏi nước có ngập không, lắc đầu. Vậy là năm nay miền Tây không có mùa nước nổi! Mưa giữa chiều. Nhớ một nơi không phải là quê hương nhưng thương như thương người thân thiết. Nhớ gần 40 năm trước, lần đầu biết mùa nước nổi là gì. Nước phù sa miệt Hậu Giang bỗng trong xanh, dòng chảy trên các kinh lững lờ, không có nước ròng. Và đủ loại cá tràn về, cá linh, cá thiểu, cá vồ... và đặc biệt là cá trê trắng, nấu canh chua bông súng hay bông so đũa ngon lạ lùng...Miền Tây còn đó nhưng môi trường đã quá nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu. Hết Tàu đến Thái Lan, Lào, Miên thay nhau xây đập trên dòng Mekong. Và thực tế nghiệt ngã mất mùa nước nổi đã hiện tiền. Không có mùa nước nổi, miền Tây mất phân nửa bản sắc của mình, đáng sợ hơn không có lũ tràn về, ruộng đồng sẽ nhanh chóng bị nước biển xâm nhập, và vựa lúa sẽ còn không? "  Hết trích dẫn.

     Ngày hôm sau, người viết nhận được thêm một eMail của một bạn trẻ từ vùng Thất Sơn Châu Đốc cho biết: "mùa nước năm nay nhỏ đến thất thường", rồi anh ấy tự hỏi: "phải chăng các con đập thượng nguồn sông Mekong đang tích nước?"

NHỮNG GỐC RỄ  "NHÂN TAI"

     Từ Nạn Phá Rừng:

     Những khu rừng mưa / rainforest từ xa xưa vẫn mang chức năng điều hợp, giữ lại trong lòng đất một lượng nước mưa quan trọng từ thượng nguồn thì nay không còn nữa, khi cơn mưa đổ xuống thì không những nước mưa sói mòn làm trơ đất và nước mưa thì cứ thẳng chảy ra ngoài dòng sông, tức thời làm tăng khối lượng nước và trong ngắn hạn mực nước sông đột ngột dâng cao khi có mưa nhiều ở thượng nguồn.

     Những năm gần đây do ảnh hưởng nạn phá rừng tự sát –suicidal deforestation, của các quốc gia lưu vực sông Mekong: của người Tàu trên Vân Nam, của người Lào người Cam Bốt ở vùng Hạ Lưu Sông Mekong với hai đồng lõa dấu mặt là Thái Lan và Việt Nam, khiến cho người dân Việt nơi ĐBSCL càng thêm khốn khổ: tới mùa mưa lũ đổ về sớm hơn, nhanh hơn lại lớn hơn khiến nhà nông trở tay không kịp gây tổn hại nặng mùa màng và cả về nhân mạng. Và tiếp đến mùa khô do không còn những khu rừng mưa như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước nên hậu quả tất yếu là hạn hán.

     Tin Reuters gửi đi từ Nam Vang, “Nhóm Môi Sinh Anh – Global Witness tố cáo các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam đã dính líu đến vụ đốn rừng lậu đại quy mô, đe dọa hủy hoại các khu rừng cấm của Cam Bốt. Những cây gỗ quý bị đốn bừa bãi ấy được đưa qua ngả Gia Lai, Sông Bé để chuyển xuống cảng Quy Nhơn hay Sài Gòn trước khi xuất cảng.” Bản tin ấy viết tiếp, “Một vụ làm ăn buôn bán lớn lao như thế, bất chấp luật pháp phải là kết quả của sự tham ô và đồng lõa ở cấp chánh quyền cao nhất của hai nước.” Một tình huống tương tự không kém nguy hại cũng đã diễn ra trong các khu rừng mưa trên đất nước Lào. [3]
     Đồng lõa phá rừng mưa, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã và đang trực tiếp “tự gây ra một thảm họa môi sinh – self-inflicted ecological disaster,” với hậu quả lâu dài không chỉ ở đồng bằng châu thổ mà trên khắp ngả sông rạch và nguồn nước của cả một quốc gia.

     Đến Những Hồ Chứa Đập Thuỷ Điện:

     Với những hồ chứa khổng lồ từ chuỗi các con đập bậc thềm Vân Nam / Mekong Cascades mà Tàu đã và đang xây trên thượng nguồn sông MK, cộng thêm những con đập Lào và Cam Bốt đang xây thì "mùa nước nổi" ở ĐBSCL có thể rồi ra sẽ hoàn toàn biến mất.

     Chức năng của những hồ chứa thủy điện khổng lồ -- trên lý thuyết là tích trữ nước trong mùa mưa lũ để xử dụng trong mùa khô.  Nhưng khi các hồ chứa ở thượng lưu tích nước thì lưu lượng lũ đổ về hạ nguồn sẽ ít hơn. Không còn lũ đổ về có nghĩa là không còn "mùa nước nổi". Với hậu quả là Biển Hồ Tonle Sap trên Cam Bốt sẽ không được làm đầy, và vào mùa khô nước từ Biển Hồ chảy về ĐBSCL ít đi và đồng thời với mực nước biển ngày một dâng cao/ Sea Level Rise thì nạn nhiễm mặn ngày càng gia tăng trầm trọng.



Hình II: Diện tích Biển Hồ Tonle Sap co giãn với hai mùa Mưa Nắng
IIa (trái) Mùa Khô; IIb (phải) Mùa Mưa
[nguồn: Tom Fawthrop]

     Để tự bào chữa cho các con đập thuỷ điện Vân Nam, các công trình sư thuỷ điện Tàu đã lý luận rằng các hồ chứa đập thuỷ điện ở thượng lưu mang chức năng điều hoà dòng chảy con sông Mekong: giữ nước trong Mùa Lũ làm giảm lũ lụt hạ nguồn và rồi trong mùa khô cũng vẫn những con đập ấy xả nước xuống hạ lưu nhiều hơn lưu lượng tự nhiên do có sẵn lượng nước ở những hồ chứa tích từ mùa lũ năm trước, nhưng hiện thực thì không đơn giản như vậy.

     Bởi vì chính những con đập thuỷ điện thượng nguồn đã phá huỷ chu kỳ điều hợp thiên nhiên vô cùng kỳ diệu của con sông Mekong. Khi mà các hồ thuỷ điện ngăn chặn nguồn nước lũ trong Mùa Mưa từ thượng nguồn cũng chính là nguyên nhân triệt tiêu "mùa nước nổi" nơi ĐBSCL. Để rồi sang Mùa Khô, nguồn nước ấy lại bị chính Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Cam Bốt cùng chuyển dòng/ diversion lấy nước từ con sông Mekong cho nhu cầu nông nghiệp nên Cửu Long càng thêm cạn dòng. Nhà nông học Võ Tòng Xuân đã từng ghi nhận:

     "Chúng tôi đã chứng kiến những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên khắp các vùng Đông Bắc Thái, Nam Lào và Cam Bốt, đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể trong vùng. Nhiều năm qua, nguồn nước cung cấp cho các vụ lúa mùa khô nơi ĐBSCL đã bị sút giảm nghiêm trọng, hậu quả là nạn nhiễm mặn tiến sâu vào đất liền xa tới 80 km và gây tổn hại cho mùa màng.” [26-10-2013]

     Và như vậy, theo kỹ sư thuỷ học Đỗ Văn Tùng từ Canada thì ĐBSCL đã và đang chịu "tai họa kép" thiếu nước cả trong mùa lũ lẫn mùa khô! Cũng vẫn theo anh, thì bắt đầu từ giữa tháng 8/2015 mực nước ở Biển Hồ trụt khoảng 1.3 mét trong vòng 10 ngày là một điều bất thường. Đối với một Biển Hồ lớn như Tonle Sap thì ngay cả khi không có nước chảy vào hồ thì mực nước hồ cũng thay đổi rất ít vì chỉ bị mất nước do bốc hơi, nên phải kể thêm yếu tố chuyển dòng/ diversion, lấy nước ra khỏi hồ tiêu tưới cho những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên Cam Bốt, như vậy đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể nơi cuối nguồn là ĐBSCL.

     Theo KS Phạm Phan Long Viet Ecology Foundation, tình trạng mực nước Biển Hồ Tonle Sap, theo đồ biểu của Uỷ Hội Sông Mekong / MRC, thì hai tháng nay mực nước xuống thấp dưới cả mức thấp kỷ lục năm hạn hán 1992. Mưa ngày càng ít đi, mà hồ chứa đập thuỷ điện với trữ lượng ngày càng lớn hơn và nhiều thêm, hậu quả là Biển Hồ Tonle Sap tránh sao cho khỏi trơ đáy và ĐBSCL làm sao còn "mùa nước nổi". Tình trạng tai họa kép đã xảy ra vào cả hai Mùa Mưa lẫn Mùa Khô, và còn là "tai họa kép" của nhân tai lẫn thiên tai. [1]  http://ffw.mrcmekong.org/stations/pre.htm 


Hình III: mực nước Biển Hồ Tonle Sap, theo đồ biểu của Uỷ Hội Sông Mekong thì hai tháng nay [9 & 10] mực nước xuống thấp dưới cả mức thấp kỷ lục năm hạn hán 1992 [nguồn: MRC]

ĐBSCL VÀ HỘI CHỨNG LUỘC ẾCH

     Trên báo chí truyền thông, người ta hay dùng "giai thoại luộc ếch" như một ẩn dụ/ metaphor. Đó là nếu ta bỏ một con ếch vào nồi nước nóng, thì con ếch sẽ có phản ứng và nhẩy ngay ra khỏi nồi nước. Nhưng nếu ta đặt ếch vào một nồi nước lạnh, để ếch ngồi trong đó, rồi từ từ nâng nhiệt độ lên, một cách rất chậm thì con ếch vẫn thoải mái ngồi trong đó và không nhúc nhích, cho đến khi con ếch bị luộc chín từ lúc nào mà chính nó cũng không biết.

     Trên thực tế, thì con ếch sẽ nhẩy ra khi nước bắt đầu nóng. Nhưng không sao, "Hội chứng Luộc ếch/ Boiling Frog Syndrome" vẫn có một ý nghĩa ẩn dụ rất hữu ích khi muốn nói tới nói tới tình trạng con người bị "mất khả năng phản ứng" đối với những mối hiểm nguy đến rất từ từ / gradual threats.
     Al Gore nguyên Phó Tổng Thống Mỹ, đồng chia giải Nobel Hoà Bình 2007 do nỗ lực phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu do con người gây ra/ man-made climate change và xây dựng nền móng cho những biện pháp chống lại sự biến đổi ấy. Trong cuốn phim An Inconvenient Truth(2006) Al Gore cũng đã dùng ẩn dụ "con ếch luộc" để nói tới sự "vô minh" của con người trước hiện tượng "hâm nóng toàn cầu/ global warming" nhưng trong cuốn phim ấy, con ếch đã được cứu sống. [4]

      Cũng không phải là quá đáng nếu đem ví Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trở thành một "con ếch luộc", đang đi dần vào một "Cái Chết Tiệm Tiến của Thế Kỷ" với hơn 20 triệu cư dân thì vẫn cứ đang sống lặng lẽ trong đó, không có phản ứng gì trước một thảm hoạ đến rất từ từ và không thể thấy ngay một cách "nhãn tiền" cho đến khi tất cả một Vùng Châu Thổ cùng với một Nền Văn Minh Miệt Vườn đã bị chìm sâu trong một biển mặn.


NGÔ THẾ VINH
California, Oct 12, 2015



Tham Khảo:
1/ Prek Kdam (Tonle Sap), Water Level. Mekong River Commission
2/ Đọc tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng. Đỗ Hải Minh, Tập san Thế Kỷ 21, Số 139, 11/ 2000.
3/ Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ 2000.
4/ An Inconvemient Truth: The Crisis of Global Warming. Al Gore. Viking Books, 1st Edition, April 2007.












Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Giải Nobel y sinh học năm 2015: Hành trình về bệnh do ký sinh trùng

Giải thưởng Nobel y sinh học 2015 vừa được trao cho ba nhà khoa học: ông William C. Campbell (Đại học Drew, New Jersey, Mỹ), ông Satoshi Omura (Đại học Kitasato, Tokyo, Nhật Bản) và bà Tu Youyou (Học viện Y học cổ truyền Trung Quốc), những người có công chinh phục hai căn bệnh rất quen với người Việt chúng ta: bệnh sốt rét và “mù sông”. Giải thưởng năm nay vừa là sự vinh danh những “anh hùng thầm lặng”, vừa là một nhắc nhở về gánh nặng bệnh truyền nhiễm trên thế giới vẫn còn tồn tại.


Những ai từng theo dõi những nỗ lực của giáo sư Fred Hollow (người Úc) có lẽ sẽ chú ý đến bệnh có tên hơi lạ là bệnh “mù sông”, mà thuật ngữ y khoa tiếng Anh gọi là “onchocerciasis”. Bệnh “mù sông” do một loại giun có tên là onchocerca volvulus (giun chỉ) làm viêm mắt và dẫn đến mù vĩnh viễn.

Giun onchocerca volvulus còn làm bệnh nhân ngứa da và biến dạng da của bệnh nhân. Những người sống gần sông có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, do phơi nhiễm ruồi đen, so với người sống xa sông, do đó có tên là “mù sông” (river blindness).

Theo một ước tính từ năm 1995, có khoảng 26 triệu người trên thế giới bị nhiễm giun chỉ, trong số này có 300.000 người bị mù. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), gần 99% bệnh nhân “mù sông” trên thế giới là người châu Phi, đặc biệt là người sống ở các nước như Yemen, Trung Phi và Nam Mỹ có nguy cơ mắc bệnh cao.

Quá trình phát minh Ivermectin

Hai nhà khoa học William Campbell và Satoshi Omura được vinh danh và ghi nhận vì những đóng góp vô cùng quan trọng trong công cuộc xóa bỏ bệnh giun chỉ trên thế giới. Cả hai đều đã hơn 80 tuổi, nhưng công trình giúp họ đạt đỉnh vinh quang được thực hiện hơn 40 năm về trước.

Câu chuyện đằng sau công trình này là một bài học hợp tác quý báu giữa giới kỹ nghệ và khoa học.

Giáo sư William Campbell xuất thân là một bác sĩ thú y, từng là một nhà khoa học của Tập đoàn dược phẩm Merck, ông chuyên về ký sinh học. Giáo sư Satoshi Omura là một nhà sinh vật học chuyên về môi trường thuộc Đại học Kitasato.

Vào thập niên 1970, Omura và các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Kitasato (Tokyo) đã phát hiện những hợp chất do các vi sinh vật sản sinh trong môi trường tự nhiên. Năm 1971, nhân một kỳ “nghỉ hè hàn lâm” (sabbatical leave), Omura đến làm việc cho phòng thí nghiệm (labo) của TS Max Tishler (Tập đoàn dược Merck).

Nhóm nghiên cứu Kitasato muốn tìm một đối tác kỹ nghệ để bào chế một loại thuốc nhằm giải trừ bệnh giun chỉ. Trong lúc đó thì labo của Merck cũng đã tìm ra một số hợp chất liên quan nên cả hai nhóm thành lập một “liên minh” khoa học vào năm 1973.

Năm thứ hai của liên minh khoa học, nhóm Kitasato tách được một vi sinh vật có tên là Streptomyces avermitilis tìm thấy trong đất gần một sân golf giáp thị trấn biển Kawana, thuộc vùng Shizuoka. Mẫu đất và sinh vật được gửi qua labo của Merck để phân tích thêm, và các nhà khoa học của Merck tìm thấy một dòng S. avermectinius có khả năng trừ sán và diệt giun mà không gây tác hại.

Hợp chất có khả năng diệt giun và trừ sán này là avermectin, có khả năng diệt giun cao gấp 25 lần so với thuốc các hợp chất hiện hành. Đến năm 1981, thuốc Ivermectin được phê chuẩn cho bán trên thị trường thú y, nhưng sau này được sử dụng cho việc phòng chống bệnh giun chỉ ở châu Phi.

Hiện nay, Ivermectin được phát miễn phí cho khoảng 300 triệu người trên thế giới mỗi năm. Các giới chức y tế quốc tế cho rằng bệnh giun chỉ sẽ được xóa sổ vào năm 2025. Việc khám phá và sử dụng Ivermectin được xem là một phát minh quan trọng nhất trong lịch sử y tế công cộng trong thế kỷ 20 và được đánh giá ngang hàng với phát minh penicillin.

Từ dự án bí mật 
đến Artemisinin

Câu chuyện khám phá Ivermectin đã thú vị, nhưng câu chuyện đằng sau Artemisinin càng thú vị hơn. Bệnh sốt rét là một vấn nạn y tế công cộng, hoành hành, gây nạn cho hàng trăm triệu người trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng nhiệt đới như Việt Nam. Những cựu chiến binh thời kháng chiến không xa lạ gì với bệnh sốt rét, vì nó là thủ phạm cướp đi mạng sống của rất nhiều binh sĩ.

Năm 1969, Mao Trạch Đông giao cho nhà khoa học Tu Youyou (Đồ U U) một sứ mệnh quan trọng là tìm thuốc chống sốt rét. Đồ U U lúc đó 39 tuổi, là dược sĩ đang công tác tại Viện Y học cổ truyền Trung Quốc. Dự án bí mật có mã số là “523” (vì thành lập ngày 23-5-1967).

Xuất thân là một dược sĩ nên Đồ U U nghĩ ngay đến dược thảo ở Hải Nam, nơi có khí hậu nhiệt đới. Bà cho biết lúc đó bà chứng kiến rất nhiều trẻ em và người lớn chết vì sốt rét. Bà tìm trong cổ thư y học của Trung Quốc và phát hiện một đoạn viết về cách dùng thảo dược để điều trị sốt rét.

Bà và cộng sự đọc hàng trăm trang sách y học cổ để biết dược thảo dược đó là gì và đến từ đâu. Sau cùng họ tìm ra một loại cây ngải (Artemisia annua) dùng để điều trị sốt rét. Bà và cộng sự cố công tách hợp chất từ cây ngảiArtemisia annua để thử nghiệm trong điều trị và kết quả ban đầu hết sức khả quan. Sau khi thử nghiệm thêm về tính an toàn, Artemisinin được triển khai cho quần thể lớn hơn với những hiệu quả bất ngờ.

Công trình của Đồ U U không được nhiều người trong thế giới khoa học biết đến vì dự án bí mật. Ngay tại Trung Quốc, bà cũng không nổi tiếng, không được bất cứ giải thưởng gì, và không được bầu vào viện hàn lâm khoa học. Mãi đến khi các đồng nghiệp Mỹ và phương Tây có dịp tương tác với giới khoa học Trung Quốc thì mới biết đến thành công của bà Đồ U U.

Năm 2011, bà được trao giải thưởng danh giá Albert Lasker (của Mỹ) - giải này thường là “tiền đề” cho giải Nobel. Đến năm nay thì bà chính thức được vinh danh và ghi nhận qua giải thưởng Nobel y sinh học 2015. Bà là nhà khoa học quốc tịch Trung Quốc đầu tiên được trao 
giải Nobel.

Đường về tư tưởng Nobel

Hai công trình được trao giải Nobel y sinh học năm nay thuộc vào nhóm bệnh bị... quên lãng. Quên lãng là vì trước đây các giới chức y tế phương Tây từng tuyên bố một cách tự hào rằng “Bây giờ chúng ta có thể nói rằng bệnh truyền nhiễm đã được khống chế hoàn toàn. Đã đến lúc chúng ta đóng sổ căn bệnh này”. Nhưng trong thực tế thì bệnh truyền nhiễm vẫn còn là một mối đe dọa lớn đến đa số người dân trên thế giới. Chẳng hạn, bệnh sốt rét vẫn còn là một mối đe dọa đến rất nhiều người ở Việt Nam.

Do đó, giải Nobel y sinh học năm nay là một nhắc nhở rằng thế giới vẫn còn đang phải đối phó với bệnh ký sinh trùng và nhiễm trùng nói chung. Hào quang về những ca mổ vĩ đại vẫn không cứu được hàng triệu bệnh nhân mắc các bệnh trong cộng đồng.

Một điều đáng quý là các nhà khoa học này theo đuổi một hướng nghiên cứu bị thế giới khoa học bỏ quên. Trong khi hàng trăm triệu người trên thế giới mắc bệnh truyền nhiễm, thì đa số người trong giới khoa học chạy theo những nghiên cứu liên quan đến các bệnh của người giàu (như tim mạch, tiểu đường, ung thư, loãng xương).

Lý do đơn giản là thị trường thuốc điều trị bệnh truyền nhiễm tuy lớn nhưng là những nước nghèo nên các tập đoàn dược không quan tâm đến tiềm năng kinh tế bằng các thuốc điều trị bệnh của người giàu.

Đây là những công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, và có thể xem là y học cổ truyền. Trong quá khứ gần, ủy ban giải Nobel y học từng bị phê bình gay gắt về những giải cho các công trình... vô bổ.

Thật vậy, những công trình nghiên cứu cơ bản thể hiện sự thành công tuyệt mỹ về công nghệ sinh học nhưng chẳng đem lại lợi ích thiết thực gì cho bệnh nhân và cộng đồng nói chung. Mấy năm gần đây, một số nhà khoa học chất vấn tính thiết thực của giải Nobel y sinh học, vì họ cho rằng giải thưởng này chỉ ghi nhận những công trình nghiên cứu cơ bản và ngày càng xa rời thực tế của khoa học lâm sàng.

Có người thậm chí đề nghị một giải thưởng y sinh học khác thiết thực hơn! Năm nay, giải thưởng Nobel y sinh học đã ghi nhận một công trình khoa học lâm sàng thiết thực, và đã không phụ lòng nhà sáng lập Nobel khi ông viết trong di chúc rằng giải thưởng nên dành cho “những ai có cống hiến đem lại phúc lợi lớn cho con người”.

Một điều hết sức thú vị là các nhà khoa học được trao giải thưởng Nobel y sinh học năm nay không phải là những tên tuổi chói sáng trong trường khoa học quốc tế. Họ ít hay không công bố trên những tập san khoa học danh giá như Nature, Science hay Cell.

Riêng bà Đồ U U thì càng ít công bố trên các tập san khoa học danh giá ở phương Tây. Nhưng thành quả nghiên cứu của họ đem lại lợi ích cho hàng trăm triệu người trên thế giới, đó chính là thước đo của thành tựu sự nghiệp khoa học.

Tôi nghĩ giải thưởng Nobel y sinh học năm nay còn là một vinh danh gián tiếp cho y học cổ truyền. Đã từ lâu, y học cổ truyền chịu nhiều “tai tiếng”, thậm chí nhạo báng từ giới y học hiện đại. Nhưng trong thực tế thì đa số (xin nhấn mạnh: đa số) người dân trên thế giới vẫn dùng các biện pháp y học cổ truyền trong điều trị bệnh.

Ở châu Phi và châu Á, có lẽ 80% người dân vẫn dùng y học cổ truyền hằng ngày. Nhưng rất tiếc là khoa học hiện đại ít khi nào tìm hiểu hiệu quả của y học 
cổ truyền. Có thể nói công trình của bà Đồ U U là y học cổ truyền, dựa vào kiến thức của y văn Trung Quốc trong nhiều thế kỷ trước, chứ không phải y học hiện đại. Thế nhưng thành công của bà đã cứu hàng trăm triệu người trên thế giới.

Ở Việt Nam ta cũng có y văn cổ, nhưng khai thác nguồn kiến thức này theo phương cách khoa học hiện đại vẫn chưa được làm tốt. Do đó, giải thưởng năm nay làm chúng ta nhận thức rằng nhiều thuật điều trị có khi chẳng tìm đâu xa, mà là cây cỏ và vi sinh vật ngay trước mặt chúng ta. 

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác