Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

Hãnh diện là người Việt Nam?



Đó là tựa đề của một bài viết trên Nguoi-viet.com, có lẽ là nhật báo lớn nhất trong cộng đồng người Việt bên Mĩ. Nhân bài này tôi cũng muốn ghi thêm vài dòng để gọi là "nhật kí". Hồi còn nhỏ tôi cũng rất tự hào về người Việt, vì tôi nghĩ người mình thông minh và hiếu học. Thời đó, ai nói xấu người Việt là tôi phản đối ngay. Nhưng khi lớn lên, ra nước ngoài và có dịp tiếp cận nhiều nguồn thông tin, thì tôi bắt đầu có cái nhìn khác. Tôi nghĩ người Việt mình chẳng hơn ai, và cũng chẳng hiếu học (bác Hoàng Tụy nói là “hiếu bằng cấp”) hơn ai. Báo chí VN thì cứ tự ru ngủ rằng người mình tài ba, thông minh xuất chúng. Có giáo sư còn lấy mấy cái huy chương thi Olympic ra để chứng minh rằng người Việt thông minh. Thật là ấu trĩ đến không ngờ! (Báo chí mà nói như thế thì có thể còn “tha thứ” được, chứ giới khoa học mà nói như thế thì khó nghe quá).


Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nói rằng người mình có thói gian tham, và ông tuyên bố không thể chữa được thói gian tham đó. Mới đọc qua tôi cũng hoang mang, vì không ngờ anh Nhàn mà còn phát biểu mạnh như thế. Nhưng kinh nghiệm của tôi ở Úc thì có phần (chỉ dám nói là “có phần”) nhất quán với nhận định của anh Nhàn. Có khá nhiều gia đình khá giả (có nhà cửa đàng hoàng) dàn kịch để cho bà vợ bị ông chồng hành hung đánh đập có dấu sưng mặt, chảy máu mũi, rồi đi đến các tổ chức tị nạn để xin tá túc. Úc bênh phụ nữ, nên thấy cảnh như thế là cho ở ngay. Tá túc một thời gian, rồi … xin nhà. Căn nhà thứ hai! Nhiều gia đình thành công. Nhưng Nhà nước Úc theo dõi và biết, nên những màn kịch đó bị lật tẩy và xấu hổ cả đám. Sự việc mới bị báo nêu tuần vừa qua, nên làm tôi nhớ đến cái tham của người mình. Tôi chỉ biết hi vọng đó là thiểu số. Nhưng dù là thiểu số thì vẫn ảnh hưởng đến danh dự người Việt. 


người Việt, tật xấu, xuất khẩu lao động
Người Việt bị kì thị ở Nhật vì ăn cắp. Đây là tấm biển cảnh cáo đang gây xôn xao. Ảnh của Vietnamnet.



Do đó, trả lời câu hỏi của ông Huy Phương, “Có hãnh diện là người Việt”, thì tôi phải nói là “Chưa”. Chưa chứ không phải là “Không”. Tôi nghĩ chỉ khi nào nước mình giàu mạnh lên, người mình văn minh hơn (văn minh như người Thái là tôi mừng rồi) thì lúc đó câu trả lời mới là “Có”. Nhưng lúc đó thì chắc gì tôi còn sống để trả lời. :-)

NVT 

===

Hãnh diện là người Việt Nam?
“Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng,
thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”
(Câu hỏi của báo Thanh Niên trong nước)

Trong bài “Ðêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” đăng trên nhật báo Người Việt (2009) trước đây, ký giả Ðông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, “Con gái Việt Nam đẹp lắm!” Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Câu trả lời tất nhiên là không! Ai lại hãnh diện khi có đồng bào, con em của mình, dù được khen là đẹp phải thất thân đi làm gái mại dâm. Không những được khen đẹp lắm, mà dân địa phương còn một “lắm” nữa, khi nói: “Con gái Việt Nam rẻ lắm!”.





Một chuyến bay của Vietnam Airlines cất cánh tại phi trường Ðà Nẵng. Nhân viên hãng này từng bị tố cáo đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật vận chuyển về Việt Nam. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)


Khi Ðông Bàn đang đứng trên đất Malaysia, hẳn ông không thể nào hãnh diện là người Việt Nam.

Chúng ta cũng không hãnh diện là người Việt Nam, nếu chúng ta đang ở Ðài Loan.

Theo số liệu thống kê kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Ðài Loan trong 14 năm (1995-2008) đã có 117,679 trường hợp, chiếm 82% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Trong một đảo quốc nhỏ như Ðài Loan đã có hơn 10,000 phụ nữ Việt bỏ xứ sang đây làm vợ người, dù hạnh phúc hay khốn khổ, thì cũng vì thân phận nghèo đói, tương lai mờ mịt, có vinh dự gì cho đất nước khi đàn bà phải ly hương, với những cuộc hôn nhân không tình yêu chỉ vì đồng tiền. Ðiều khốn nạn nhất là trong tâm ý của người dân đồng bằng Cửu Long, “lấy chồng Ðài Loan” là chuyện mơ ước của tất cả mọi người. Một đôi vợ chồng đem con gái về thăm quê được một người bà con buột miệng khen: “Úi, con bé này ngộ quá, lớn chút nữa lấy chồng Ðài Loan được à nghen!”

Cũng ở Ðài Loan, năm người lao động Việt Nam làm thuê ở một công ty thủy sản địa phương đã hợp lực khiêng lồng đi bắt hai con chó của dân địa phương bỏ vào bao tải, dìm xuống biển cho chết, sau đó mang lên làm thịt.

Ngoài việc phải quỳ hai giờ cúi lạy bàn thờ chó để tạ tội và để quần chúng giảm cơn thịnh nộ, năm người lao động Việt Nam này còn bị phạt 10,000 tiền Ðài Loan.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nhật.

Trên nhiều diễn đàn của Nhật, nhiều người Nhật “cực đoan” kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào... cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “dòi bọ” ở Việt Nam, sau những vụ: PCP, một tập đoàn cung cấp dịch vụ của Nhật bị Việt Nam đòi hối lộ 15% để được trúng thầu các dự án dùng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam; Nhân viên, tiếp viên hàng không và phi công Vietnam Airlines, tổ chức đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật để vận chuyển hàng gian về tiêu thụ tại Việt Nam; Các tu nghiệp sinh Việt Nam trước khi sang Nhật đã bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động CSVN bóc lột thậm tệ; Lãnh sự quán Việt Nam ở Nhật tại Osaka tổ chức bán giấy thông hành Việt Nam.

Trong một số siêu thị tại Nhật, có bảng cảnh cáo dành cho người Việt về chuyện ăn cắp vặt sẽ bị vào tù! Bức ảnh đã làm rộ lên tin đồn về nạn ăn cắp vặt của người Việt ở bên Nhật. Nhiều người cho rằng, người Việt đã để lại ấn tượng xấu xa trong mắt người Nhật khi xuất ngoại sang đất nước của họ.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Singapore.

Trang mạng với tên gọi là Craigslist có mặt tại Singapore đưa thông tin rằng khách hàng có thể lựa chọn “gái Việt còn trinh,” giá khoảng $3,000 một tuần, ngay tại sân bay, khách sạn hoặc bất cứ nơi nào khách hàng yêu cầu. Tình trạng các cô gái Việt Nam bán trinh tại Singapore dường như công khai, ai cũng hay biết. Cảnh sát Singapore cho biết, hầu hết các cô gái Việt còn trinh đều ở độ tuổi từ 16 đến 17, đến và “làm việc” qua nhân vật trung gian, và năm ngoái, tại đây, một cô gái Việt Nam 17 tuổi cũng đã rao bán trinh tiết với giá $1,500!

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nga.

Các đường dây buôn người đưa hàng nghìn phụ nữ Việt Nam vào các nhà chứa Nga, nhưng Ðại Sứ Quán Việt Nam tại Nga từ chối trả lời câu hỏi của BBC cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền để nói về việc này. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng: “Trong tất cả các trường hợp ở Nga này, thủ phạm là những người Việt được bao che bởi một số giới chức ở Tòa Ðại Sứ Việt Nam ở Nga, thậm chí họ thành Hiệp Hội May Dệt dưới sự bảo trợ của Tòa Ðại Sứ Việt Nam.”

Cảnh sát Nga vừa khám phá một xưởng may “đen” dưới lòng đất tại khu chợ Cherkizov ở thủ đô Moscow, bắt hằng trăm di dân lậu Việt Nam. Nạn buôn lậu của người Việt tại Nga là chuyện xảy ra hằng ngày, có lẽ bởi nguyên nhân trong 80,000 người Việt ở Nga đã có 80% làm nghề buôn bán, phần lớn là chợ trời, mánh mung.

Ở Ba Lan: “Cầm quyền Hà Nội và nhân viên Tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Warsaw là một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.” (Ðài báo Weltspiegel Ðức)

Câu trả lời là không, ở mọi nơi trên thế giới.

Trên VietNamNet, người Việt Nam sinh sống ở Nhật, ở Nga, ở Anh, ở Úc, ở Nam Phi, ở Mozambique và ngay cả ở California, đã trình bày những những mẩu chuyện về người Việt đọc xong chỉ muốn “độn thổ,” với bao nhiêu thói hư, tật xấu khác của người Việt từ trong nước đến như trộm cắp, gian dối, đái bậy, khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, ăn uống thô tục, tranh giành, chen lấn nơi công cộng, không biết nói cảm ơn, xin lỗi khi cần. Nói về chuyện ăn cắp và ăn cắp vặt thì Việt Nam chắc hẳn bỏ xa đàn anh Trung Quốc. Ngay cả cuộn giấy đi cầu trong khách sạn, khách người Việt cũng không tha.

Một người Việt làm nghề thông dịch cho tòa án và cảnh sát ở Úc, cho biết phần lớn thủ phạm ăn cắp trong siêu thị và trồng cần sa trong nhà là những người mới định cư, đặc biệt những người từ Bắc Việt Nam và du học sinh. Mỗi lần người này đi dịch là anh ta khổ tâm vì cảm thấy nhục nhã cho dân tộc mình.

Trong khi trao đổi chuyện này với một phụ nữ trong nước, bà này đã viết cho chúng tôi: “Năm 2008 vào dịp Tết Nguyên Ðán, tôi được con trai cho di du lịch Doha (Qatar,) sẵn dịp công ty của con bảo lãnh qua chơi Dubai. Nhưng đến chiều về lại Doha thì bị giữ lại phi trường vì nghe nói có chuyện gì xảy ra ở một siêu thị mà có người Việt mình dính vô. Trong khi cả đoàn ‘check in’ thì riêng tôi bị giữ lại vì mang passport CHXHCN Việt Nam. Mang hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài buồn lắm ông ơi!!!”

Lâu nay, người ta nhắc đến hai chữ Việt Nam hơi nhiều, không phải vì “tiếng tăm” mà vì “tai tiếng!”

Như vậy cũng không nên trách câu phát biểu của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt : “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế.”

Nhân câu nói này, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam đã chỉ trích, lên án ông và đặt câu hỏi về lòng yêu nước của ông.

Tôi thì nghĩ khác, vì yêu nước nên ông Ngô Quang Kiệt mới cảm thấy nhục nhã. Tôi cũng không hãnh diện lắm về chuyện làm người Việt Nam, nhưng không phải như vậy là tôi không yêu nước, mà có thể vì lòng yêu nước, biết đâu có tác giả sẽ cho ra đời một cuốn sách mang tên “Người Việt Xấu Xa”.

Chúng ta đang nói chuyện người Việt dưới chế độ Cộng Sản. Ðể công bằng chúng ta nên có thêm một cái nhìn về người Việt ở Mỹ. Ngoài những chuyện được đề cao là làm “vẻ vang dân tộc Việt,” không có gì hơn là xin trích dẫn lời của ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc ngân hàng VNCH:

“Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: Bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản, v.v.). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy 80 vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước chúng ta bên kia nữa!” (“Lời Nói Ðầu” - “Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới” hồi ký, XB 2004.)

Như vậy, sau một người có tên tuổi trong nước là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cảm thấy “nhục nhã,” bây giờ một người ngoài nước, lại là một viên chức cao cấp của hai nền Cộng Hòa Việt Nam, cảm thấy “xấu hổ,” một phụ nữ bình thường thì than “buồn lắm!” Thế mà không biết sao thời “chống Mỹ” báo chí miền Bắc lại phịa ra câu chuyện một anh chàng “bá vơ” nào đó tuyên bố: “Mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người... Việt Nam!”

Ông Nguyễn Hồi Thủ khi dịch cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” đã có nhận xét: “Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất ít người thật tình có can đảm và trung thực để tìm hiểu, phê bình, những cái xấu, cái dở của dân tộc mình. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng... Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình.”

Báo Thanh Niên trong nước đã đặt câu hỏi: “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”

Thưa, các yếu tố thông minh, chăm chỉ và nhất là kiểu “ra ngõ là gặp anh hùng,” chưa đủ để tạo thành một con người tử tế và một đất nước tử tế để cho thế giới tôn trọng và yêu mến!


Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Vài hình ảnh về Chú Tư (Bs Dương Quang Trung)


Hôm qua tôi đã ghi lại một số kỉ niệm với Chú Tư, và hôm nay tôi lục lại một số hình ảnh cũ để chia sẻ cùng các bạn về một người tôi rất quí mến. Đây là những hình ảnh trong Hội nghị Strong Bone Asia (SBA) năm 2008, một trong những hội nghị quan trọng nhất mà Hội Y học TPHCM đã tổ chức. Tôi còn nhiều hình về Chú Tư trong những hội nghị sau này, nhưng vì chuyển máy tính nên bây giờ rất khó tìm lại. Đây là hình chụp do Ts Nguyễn Đình Nguyên ghi lại. Không có Nguyên thì không có những tấm hình đầy ấp kỉ niệm này. Cám ơn Nguyên! 



Tôi muốn ghi thêm một điều là có vài bạn sau khi đọc bài viết hôm qua viết email hỏi tôi tại sao cho đến hôm nay mà trang web của Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch và Hội Y học TPHCM vẫn không có tin tức gì về sự kiện Chú Tư qua đời. Tôi thú thật là không biết và không thể trả lời được. Có thể ở Việt Nam người ta có cách làm khác, nên rất khó nói. 

Tuy nhiên, tôi chỉ có thể nói rằng ở nước ngoài, khi một người tiền nhiệm quan trọng qua đời, thì trường tổ chức lễ tưởng niệm. Người ta còn lập ra những quĩ học bổng hay lập giải thưởng để vinh danh người quá cố có công với trường. Có khi người ta lấy tên của người quá cố để đặt tên một building hay phòng của đại học. Chẳng hạn như ở Viện Garvan chúng tôi, khi Giáo sư Sambrook và Sutherland qua đời, người ta lập quĩ học bổng lấy tên hai vị ấy để vinh danh họ, và cũng là một cách cảm tạ.  Tôi thấy các đại học bên Thái Lan họ cũng làm như bên Úc và Mĩ.  Tôi chỉ biết thuật lại cách làm ở ngoài này như là một gợi ý như thế thôi. Tôi nghĩ nếu Đại học Phạm Ngọc Thạch làm được (vinh danh Chú Tư) như đại học bên này thì quá tuyệt. 

Đây là hình chụp trong Hội nghị AFES (ASEAN Federation of Endocrine Societies) tháng 11 năm 2011. Chú Tư đang đứng chào khách. Người ngồi đang vỗ tay là Giáo sư Paul Stewart Chủ tịch Hội Nội tiết Quốc tế Iinternational Society of Endocrinology). Ông này và tôi sau này đi vòng chấm điểm abstracts. Người nữ ngồi giữa là một quan chức ngoài Bộ Y tế mà tôi quên tên.

Đây là hình chụp lúc Chú Tư đọc lời khai mạc Hội nghị Strong Bone Asia II tại Khách sạn Equatorial, Sài Gòn 25/7/2008. Người dịch là Ts Nguyen Dinh Nguyen

Chú Tư và Nguyên.


Tôi làm phiên dịch cho Chú Tư trong buổi Gala Dinner. Thật ra, tôi chỉ dịch ý, chứ bài diễn văn là do Chú ấy viết mà tôi chỉ kịp đọc qua bản tiếng Việt. Do đó, khi xuống podium Chú thắc mắc tại sao tôi có vẻ nói dài trong khi Chú nói ngắn . Ông già này rất tinh tế nhé.

Đây là nụ cười tiêu biểu của Chú Tư. Ổng cười rất tươi.


Hình chụp với Gs Phạm Song, lúc đó là Chủ tịch Hội Y học Việt Nam (và Chú Tư là Phó Chủ tịch). Thấy chúng tôi nói chuyện hào hứng, Chú Tư hỏi bộ hai người quen biết nhau từ trước à, nhưng thật ra chúng tôi chỉ gặp lần đầu. Hôm đó, gặp Gs Phạm Song, tôi cảm nhận được thế nào là một "sĩ phu Bắc Hà", là "Người Tràng An tử tế". Vậy mà vài năm sau thì ông qua đời.


 
Với Giáo sư John Eisman (Garvan Institute of Medical Research, Australia). Gs Eisman đang say sưa theo dõi màn trình diễn đàn của các nghệ sĩ trong buổi dạ tiệc.


Giờ giải lao (trước hội nghị SBA). Lúc đó, Chú Tư còn khỏe lắm, dù đã 80 rồi. Từ trái qua phải: Chú Tư, Bs Huỳnh Liên Đoàn, Bs Trương Xuân Liễu, anh Nicholas Nguyên, và tôi. 


Hình chụp Gs Chatlert Pongchaiyakul đang nói chuyện với Gs John Eisman trong buổi dạ tiệc. Chú Tư đang ngồi bên Gs Phạm Song.


Bs Võ Thành Phụng, một trong những người "chủ đạo" trong Ban tổ chức. Anh ấy bay qua Sydney và tôi bay về Sài Gòn để chuẩn bị cho một hội nghị quan trọng. Người đẹp bên trái rất quen, nhưng tôi không nhớ tên.


Nicholas Nguyên đang nói chuyện với Gs Eisman. Nicholas Nguyen là Giám đốc Bridge Health Care, một nhà tài trợ chính của Hội nghị SBA, và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Hội Loãng xương TP.


Hình chụp lưu niệm với bạn bè. Từ trái qua phải: Bs Lê Anh Bá (thư kí tạp chí Thời sự Y học - Chú Tư là tổng biên tập); PGs Nguyễn Thị Bay; PGs Lê Chí Dũng; Bs Tuấn; Bs Hồ Phạm Thục Lan (ĐH Phạm Ngọc Thạch); PGs Nguyễn Thy Khuê (ĐH Y Dược); Bs Huỳnh Liên Đoàn (Hội Y học TP); Bs Nguyễn Thị Thanh Hương (ĐH Y Hà Nội); Chú Tư; Bs Nguyễn Đình Nguyên; tôi; Bác sĩ nước ngoài (tôi quên tên); Bs Leonard Koh (Singapore); Gs JK Lee (Malaysia); PGs Lê Anh Thư (Hội Loãng xương TP); Bác sĩ (tôi quên tên); Bs Trương Xuân Liễu (Phó chủ tịch Hội Y học TP); Bs của Hội Y học nhưng tôi quên tên; PGs Võ Thành Phụng (một trong những thành viên chính của Ban tổ chức, làm việc chặt chẽ với tôi); và bác sĩ Phan Thanh Hải.

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Nhớ Chú Tư


http://admin.alobacsi.vn/Images/Uploaded/Share/2011/10/14/nen-y-te-dang-troc-goc.jpg 
VS Dương Quang Trung (1928 - 2013)

"Chú Tư"  ở đây là Bs Dương Quang Trung, chủ tịch Hội Y học TpHCM và cựu Giám đốc Sở Y tế TpHCM, và người sáng lập Đại học Y Phạm Ngọc Thạch. Sáng nay, nhận một tin buồn từ vài bạn trong nước là chú Tư Trung đã qua đời lúc 7 giờ tối ngày 22/6 tại Bệnh viện Mount Elizabeth, Singapore. Chú Tư thọ 85 tuổi. Đây là một tin sốc đối với tôi, vì Tháng Tám năm nay, đáng lẽ Chú sẽ khai mạc Hội nghị Strong Bone Asia lần thứ V, với tư cách là chủ tịch ban tổ chức. Nhưng nay thì Chú đã đi xa, và để lại trong tôi một sự tiếc thương, và nhiều kỉ niệm ùa về trong kí ức. 


Tôi gọi ông là Chú, còn ông gọi tôi  là "anh". Gọi là “Chú” vì tôi thấy gần với chú ấy về phong cách của dân miền Nam, và chú ấy trẻ hơn Ba tôi độ 2 tuổi. Chú gọi tôi là "anh", và làm tôi lúng túng vì nghĩ thầm “ổng đáng tuổi ba mình, mà ổng gọi bằng ‘anh’ thì kì quá.” Nhưng hình như Chú hiểu, nên có lần Chú giải thích: "anh là giáo sư, gọi ‘cháu’ thì kì lắm, mà anh thì không thích danh xưng, nên tôi chỉ còn gọi bằng ‘anh’. Vậy nghen." Tôi ok ngay với đề nghị của Chú. Nói như thế để thấy Chú Tư và tôi có một mối thân tình rất Nam bộ tính.

Tôi gặp Chú Tư lần đầu vào năm 2007, lúc đó chuẩn bị cho Hội nghị Strong Bone Asia tại Sài Gòn vào năm 2008. Gặp lần đầu, nhưng chú vui vẻ nói rằng đã biết tôi từ lâu qua những sách và bài viết của tôi. Gặp một người cao tuổi mà biết nhiều về mình, trong khi mình chẳng biết gì về chú, làm tôi "giữ kẽ", không nói gì nhiều. Nhưng qua lắng nghe những quan điểm của chú và cách diễn đạt, tôi nghĩ ngay rằng "ông già này cùng 'bộ lạc' với mình" và tôi bắt đầu thân mật hơn với chú. Sự thân mật đó được duy trì suốt 5 năm qua.

Năm ngoái, tôi gặp Chú Tư trong Hội nghị thường niên của Hội loãng xương TPHCM tại Phan Thiết. Lúc đó, tôi đã thấy Chú không khoẻ mấy, đi đứng có khi cần có người dìu, dù thần sắc của Chú không hề biểu hiện bất cứ một sự suy giảm sức khoẻ.  Tôi rất vui, vì hôm đó lần đầu tiên Chú dẫn Bs Võ Thị Lan (tức phu nhân của Chú) đi cùng.  Trong buổi dạ tiệc, tôi hỏi đùa “Chú Tư làm một cốc rượu vang nghen chú”, Chú nói “Được chứ”.  Rồi hôm đầu năm nay, tôi lại gặp Chú trong buổi họp chuẩn bị cho Hội nghị Strong Bone Asia lần thứ 5 (sẽ được tổ chức ở Đà Nẵng vào tháng 8 này) tôi thấy Chú quả thật có phần yếu đi. Chỉ độ 1 giờ thì Chú nói thấy mệt nên xin kiếu về trước. Nhưng Chú vẫn duy trì cái phong độ của một người lãnh đạo, vẫn với một giọng nói sang sảng và ý kiến sắc sảo. Tuần qua, tôi nghe tin Chú nhập viện vì vấn đề động mạch chủ ngực, và bạn bè cho biết tiên lượng không tốt (bad prognosis). Nhưng tôi vẫn hi vọng Chú sẽ qua khỏi, và sẽ tham gia Hội nghị ở Đà Nẵng với tư cách Chủ tịch Ban tổ chức.  Ấy thế mà nay thì Chú đã ra người thiên cổ.  Nhưng dù Chú có từ giã cõi trần, thì sự từ giã đó chỉ kết thúc một cuộc đời, chứ không kết thúc những mối liên hệ và di sản của Chú. 

 
Năm nào Chú cũng gửi thư chúc mừng năm mới. Đây là thư Chú gửi cho tôi và Nguyên nhân dịp Tết Tân Mão 

Chú tên là Trung, nhưng người trong cuộc có khi trìu mến đề cập đến Chú là “Trung Tâm”. Trung tâm là vì chú giữ vị trí trung tâm: Giám đốc Sở Y tế TPHCM (1981-1997), là người khai sinh ra va2 Hiệu trưởng của Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế của thành phố (bây giờ là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch), và có công lập Viện Tim qua sự hỗ trợ của Gs Alain Carpentier.  “Trung tâm” còn có nghĩa là Chú từng thành lập nhiều trung tâm. Mới đây nhất là trung tâm nghiên cứu về kinh tế y tế.  Hình như ở Chú, không bao giờ ngưng làm việc. Có lần tôi nhìn thấy ông đi họp với cái cặp táp, tôi hỏi đùa một đồng nghiệp là “ở tuổi đó mà ổng vẫn còn xách cặp táp đi làm mỗi sáng, không biết mai mốt mình có được như ổng không”, anh bạn tôi cười nói “Ông sẽ xem nghen, ổng làm việc đến ngày cuối đời đó, coi vậy chứ ổng khoẻ và minh mẫn không kém bọn mình đâu”.  Quả đúng như anh bạn nhận xét, Chú ấy làm việc cho đến ngày vào bệnh viện.  

Nhưng đằng sau những thành tựu đó là cả một hành trình cá nhân đầy lí thú. Chú Tư sinh năm 1928 ở xã An Xuyên (tỉnh Cà Mau) trong một gia đình theo tôi hiểu là trung lưu. Chú đi du học bên Pháp năm 1948, và năm 1958 Chú tốt nghiệp tiến sĩ y khoa từ Đại học Bordeaux.  Chú là người thời đó “không theo cộng sản là không có trái tim” nên năm 1952, Chú trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1960, Chú và Bs Lan cùng 3 con quyết định về Hà Nội làm việc. Năm 1965 Chú lên đường vào Nam, và có thời hoạt động bí mật trong Sài Gòn, tiếp cận với các trí thức nổi tiếng như Dương Quỳnh Hoa, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Văn Kiết, v.v. và cùng các nhân vật này lập chiến khu ở trong rừng.  Có lẽ chính vì những mối liên hệ với các trí thức miền Nam như thế và là một người Tây học, nên Chú Tư là một người cộng sản rất đặc biệt.  Tôi muốn nói rằng Chú Tư không phải là người giáo điều, nhưng là người thông cảm và trân trọng những đóng góp của giới trí thức miền Nam trước kia.

Do đó, ở Chú tôi tìm thấy một người đặt lợi ích đất nước và dân tộc trên những chính kiến nhỏ nhặt.  Có lần Chú kéo tôi ra ngoài phòng họp và hỏi tôi có biết giáo sư T bên Pháp không.  Tôi nói tôi biết anh ấy, nhưng không quen, và hỏi tại sao Chú quan tâm.  Chú nói rằng Chú muốn mời anh T về Việt Nam để làm việc gì đó, và nhờ tôi là mối liên lạc.  Tôi vui vẻ nhận lời, nhưng chú ý Chú ấy là vài năm trước báo chí Việt Nam có bài chỉ trích thái độ chính trị của anh ấy, vậy Chú có chuẩn bị tinh thần chưa. Chú cười ha hả, vỗ vai tôi, rồi nói: “Đến Nguyễn Cao Kỳ mà còn mời về mà; anh ấy có chính kiến là một chuyện, nhưng anh ấy yêu nước và muốn giúp quê hương thì mình phải hoan nghênh đón nhận anh ấy chứ. Vậy nghen.” Tôi chưa bao giờ nghe một lãnh đạo nào mà có sự phân định rạch ròi giữa chính kiến và khoa học như Chú Tư.  Sau này tôi mới biết rằng Chú Tư đã có một “track record” dùng người tài. Khi các bác sĩ miền Nam vượt biên, Chú Tư từng nói rằng họ đi không phải vì chống đối chế độ, mà vì cuộc sống quá khó khăn và chế độ kì thị họ. Dưới thời ông Võ Văn Kiệt, chính qua tác động của Chú Tư mà một số bác sĩ và giáo sư trước 1975 được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo bệnh viện. Đối với Chú Tư, chuyện bất đồng chính kiến hình như là rất bình thường và chẳng phải là mối bận tâm của Chú ấy.

Đó là tư cách của một người lãnh đạo.  Thật vậy, ở Chú Tư tôi còn tìm thấy tư cách của một người lãnh đạo có bản lĩnh và văn hoá. Phong cách lãnh đạo còn toát lên từ sắc diện.  Chú có một thân hình cao to, tóc trắng như tuyết, giọng nói sang sảng (dù ở độ tuổi 80s).  Trong buổi họp nào, tôi cũng thấy Chú ngồi vào ghế chủ toạ, và điều hành buổi họp rất chuyên nghiệp.  Tôi thấy Chú rất “khôn”, Chú chờ cho mọi người nói hết rồi mới đưa ra ý kiến sau cùng.  Trong lần họp ban tổ chức Hội nghị Strong Bone Asia (2007) lần thứ 2, sau khi bàn bạc qua lại các vấn đề khoa học và khách mời thỏa thê, chú “quật lại” một câu hỏi làm tôi chưng hửng: Tôi hỏi anh và các anh chị ở đây nghen: mình đã có bao nhiêu tiền rồi?  Vì ai cũng say sưa bàn chuyện khoa học, nên chẳng ai để ý đến tiền nong, và vì thế chẳng ai trả lời được.  Thế là Chú phán một câu “Có thực mới vực được đạo. Mình phải có chút tiền mới nói chuyện khoa học được.”  Đúng là một thực tế đơn giản mà mình có khi lại quên.

Ở Chú Tư, hình như cái gì cũng có giải pháp.  Từ vấn đề nhỏ đến vấn đề lớn, Chú đều có cách giải quyết rất êm đẹp.  Theo tôi hiểu, thoạt đầu, Chú Tư muốn lập trường đại học y thứ 2 ở Sài Gòn, nhưng Bộ Y tế không chấp nhận, và Chú có cách đi khác: lập trung tâm đào tạo trước, và khi đủ thực lực thì nâng cấp thành đại học.  Trong thực tế, Chú đã thành công ước nguyện có trường y thứ 2 ở Sài Gòn. 

Một chuyện khác làm tôi có ấn tượng đẹp về Chú Tư: đó là chuyện sắp xếp các khách VIP trong hội nghị.  Trong một buổi họp tiền hội nghị Strong Bone Asia 2008, ban tổ chức bàn về cách sắp xếp các khách. Vấn đề đặt ra là sắp xếp ông bộ trưởng và ông chủ tịch thành phố ngồi ở đâu cho hợp.  Có ý kiến rằng ông bộ trưởng cần ưu tiên vì ông là sếp ngành mình, nhưng có ý kiến khác cho rằng ông chủ tịch cũng là sếp mình mà lại ngành ngang.  Bàn qua bàn lại về quan hệ chiều dọc và chiều ngang, chẳng đi đến kết luận. Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn vì tốn quá nhiều thì giờ cho cái việc mà tôi cho là tiểu tiết đó, nên tôi lớn tiếng đề nghị cứ xếp theo mẫu tự tên. Chú Tư nhìn tôi như kiểu "thằng này đúng là chẳng biết gì phép tắc Việt Nam" và hình như biết tôi mất kiên nhẫn. Chú từ tốn nói "tôi sẽ giải thích sau để anh hiểu, bây giờ chuyện này để tôi quyết định". Cuối cùng chú đề nghị giải pháp trung dung: hai người ngồi ngang nhau. Ai cũng đồng ý với giải pháp đó.  

 Làm phiên dịch cho Chú Tư trong Hội nghị SBA (2008) 

Trong Hội nghị, tôi làm thông dịch cho Chú và ông bộ trưởng (Nguyễn Quốc Triệu). Tôi soạn bài diễn văn của ông bộ trưởng, rồi Chú fax bài diễn văn cho ông đọc trước và cho ý kiến.  Trong bài diễn văn, tôi cố đặt mình vào cái ghế bộ trưởng để nói những điều mang tính “lên lớp” cho đồng nghiệp ASEAN. Ông bộ trưởng chỉ sửa một câu “Y học thực chứng” thành “Y học dựa vào chứng cứ”. Tôi phản đối và giải thích rằng cách dịch của tôi là hợp lí. Nhưng Chú Tư cười nói: “Ông ấy là bộ trưởng, anh phải để ông ấy có chữ của ổng chứ.” Tôi học bài học “give and take” từ Chú Tư từ đó. Đến buổi gala dinner (dạ tiệc), tôi đóng vai trò dịch cho Chú (Chú tự soạn bài diễn văn). Xong bài diễn văn, tôi về ngồi ghế bên cạnh Gs Phạm Song (lúc đó là Chủ tịch Hội Y học Việt Nam, tức sếp Chú Tư). Thấy tôi và Gs Song nói chuyện rôm rả, Chú Tư nói “Ủa, hai người quen nhau à? Nè, hồi nảy tôi thấy tôi nói ngắn mà sao anh dịch dài ra vậy? Có thêm gì ngoài ý tôi không?”  Gs Phạm Song cười nói: “Tôi quen anh này qua mấy bài của anh ấy. Còn chuyện dịch thì tôi tin tưởng vào anh ấy.”  

 
Làm phiên dịch cho Chú Tư trong buổi dạ tiệc 

Tôi để ý thấy Chú Tư là người nghe nhiều, mà ít khi cho ý kiến. Lần nào gặp Chú, và khi có chuyện thời sự, câu đầu tiên của Chú là “quan điểm của anh sao?” Có lần gặp chú ở Hội Y học, trước buổi họp, chú hỏi tôi có theo dõi phản ứng của bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân về việc một em học sinh hack vào trang web của Bộ GDĐT. Tôi nói có theo dõi và viết bài, chú xin ngay bài viết.  Rồi câu chuyện lan sang bảo hiểm y tế, làm mấy bạn sốt ruột, vì quá giờ định sẵn, nhưng chú khoát tay nói "để tôi nghe anh ấy nói"! Nghe nói, nhưng Chú không bao giờ đưa ra nhận xét tôi đúng hay sai.  Chú chỉ nói “anh lên tiếng như thế là quí hoá lắm rồi”.

Khoảng hai ba năm gần đây, tôi thấy Chú Tư càng ngày càng ưu tư với những vấn đề thời sự nóng bỏng.  Năm ngoái gặp lại, Chú "khoe" với tôi rằng Chú đã biết dùng internet rồi. Chú nói: "Tôi bây giờ đọc báo lề phải và lề trái trên mạng hết". Tôi chưa nói gì, thì Chú nói thêm: “Tôi biết hết”.  Rồi Chú nói về những bức xúc trước sự xâm phạm trắng trợn của bọn Tàu và thái độ khiêm tốn của Việt Nam, và nói rằng Chú đã đọc bài tôi trả lời phỏng vấn trên Nature.  Năm 2011, tôi gặp Chú trong một hội nghị AFES, Chú tươi cười nói “Tôi đọc Bản ý kiến” của các anh rồi.  Đó là Bản ý kiến do 14 người soạn thảo và kí tên gửi lãnh đạo.  Chú làm tôi hơi … ngại, vì không thấy Chú nói gì thêm. Nhưng may quá, Chú nói “Tôi thấy những ý kiến của các anh quá đúng. Mà anh có nhận được trả lời của mấy ổng chưa?”  Tôi nói “Chưa”, thì chú mỉm cười.  Chú hỏi tại sao là 14 người, có ý gì không, tôi nói chẳng có ý gì Chú à, chỉ là ngẫu nhiên thôi. Chú quan tâm đến tình trạng quá tải trong bệnh viện; Chú ưu phiền trước tình trạng y đức xuống cấp. Nhưng sau đó, Chú nói như tự an ủi: tình hình có xấu như thế nào thì mình là người trí thức, mình phải làm hết sức mình. Đó cũng chính là chủ trương của Chú.

Với tôi, Chú Tư là một nhà trí thức đích thực, một người cộng sản lí tưởng và cởi mở. Đó là một người lúc nào cũng đau đáu với vận nước, lúc nào cũng ưu tư với nền y tế nước nhà, và liên tục đóng góp cho nền y tế cho đến những ngày cuối đời.

Hội nghị Strong Bone Asia lần thứ 5 sẽ vắng Chú, nhưng tất cả những người tham dự Hội nghị, kể cả cháu đây, sẽ nhớ đến những viên gạch mà Chú đã lót đường cho Hội nghị từ năm 2008. (Chú có lần nói về Chú như là "viên gạch lót đường"). Vĩnh biệt Chú Tư, và cầu chúc cho hương linh của Chú sớm về miền cực lạc, nơi mà Chú có thể nhìn lại cõi tạm để thấy những di sản của Chú đã và đang đơm bông kết trái.


Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác