Hiển thị các bài đăng có nhãn bình duyệt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bình duyệt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Tài trợ khoa học: công bằng và khoa học


Dạo một vòng TT tôi mới phát hiện bài của ... tôi. Số là nhân câu chuyện một anh kĩ sư được Thủ tướng phê chuẩn 1 triệu USD để làm kính cho người mù, tôi có ý bàn một chuyện lớn hơn: tài trợ cho nghiên cứu khoa học sao cho công bằng. Đây là một vấn đề rất quan trọng bên nhà, nhưng tôi nghĩ khó có lối thoát trong vòng 2-3 thập niên tới.



Trong đấu trường xin tài trợ cho khoa học, chuyện thành bại là thường tình. Năm nào tụi tôi cũng viết đề cương xin tài trợ, và năm nào cũng bị bác, không ít thì nhiều. Năm nay, ở Úc trong ngành y, tỉ lệ thành công nghe đồn là dưới 10%,  %, lần đầu tiên trong lịch sử NHMRC có con số thất như thế này! Tình hình cạnh trang xin tài trợ càng ngày càng ác liệt. Do đó, có tài trợ bây giờ còn quan trọng hơn cả công bố quốc tế, bởi vì được tài trợ là có bài báo và đem tiền về cho viện/trường. Bọn làm quản lí đại học thì chúng chỉ thấy cái vế sau thôi (đem tiền về cho họ), và họ nghiễm nhiên thêm 20-30% gọi là phí quản lí!


Riêng tôi thì nghĩ rằng mô hình tài trợ hiện nay (của Úc và Mĩ nữa) là sai lầm, cần phải có cải cách sớm, chứ không thì China sẽ qua mặt. Tôi nghĩ VN không nên bắt chước mô hình của Úc hay Mĩ.

Ở trong nước thì có vấn đề lớn hơn tài trợ: vấn đề công bằng và minh bạch. Qua kinh nghiệm trong nước, tôi nhận ra 4 vấn đề chính. Đó là (a) thiếu khách quan trong bình duyệt; (b) mâu thuẫn quyền lợi; (c) chủ nghĩa thân hữu; và (d) khả năng chuyên môn hạn chế hoặc "ngồi nhầm chỗ". Vấn đề (a) thì ở đâu cũng có, nhưng VN thì hơi đặc biệt và trầm trọng hơn. Hệ quả là nhiều đề tài được/không được tài trợ một cách thiếu thuyết phục, và làm cho nhiều nhà khoa học chân chính nản chí. Có người thề thốt là không xin tài trợ từ Nhà nước nữa.

Mấy năm gần đây nhờ có Nafosted lấy lại lòng tin của những người làm khoa học chân chính. Tôi rất vui vì đã đóng góp một phần cho Nafosted từ ngày mới thành lập, và sau này là làm bình duyệt cho họ. Ước gì cấp tỉnh thành cũng có Nafosted.

=====

Công bằng và khoa học

Nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm, cần phải có tiền. Có khi rất nhiều tiền. Nhưng vấn đề và cũng là khó khăn lớn mà giới khoa học trăn trở là làm sao chọn đề tài xứng đáng để tài trợ.

Thử tưởng tượng bạn đang quản lý một số tiền hàng chục triệu USD (từ tiền thuế của dân) và muốn dùng số tiền này để tài trợ nghiên cứu khoa học, bạn sẽ chọn đề tài nào để tài trợ? Đây là một quyết định không dễ dàng chút nào, vì quyết định đó đòi hỏi một sự cân nhắc hết sức cẩn thận để đáp ứng hai tiêu chí công bằng và khoa học.

Qui trình bình duyệt

Ở các nước phương Tây, nguồn tài trợ cho nghiên cứu khoa học chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Nhưng nhà nước không trực tiếp quyết định chọn đề tài để tài trợ mà giao quyền này cho giới khoa học.

Thông thường giới khoa học lập ra những hội đồng xét duyệt đề tài, mỗi hội đồng thường có khoảng 10 thành viên, và thành viên là những người có uy tín trong chuyên ngành. Uy tín của họ thể hiện qua những công trình được công bố trên các tập san khoa học chứ không phải có vai vế trong các hiệp hội chuyên môn. Mỗi hội đồng phụ trách một chuyên ngành khoa học để đảm bảo tính chuyên biệt.

Hội đồng xét duyệt dựa trên những tiêu chí cụ thể để đánh giá và cho điểm một đề tài nghiên cứu. Chẳng hạn như họ đánh giá dựa vào bốn tiêu chí chính là: chất lượng khoa học, tầm quan trọng của công trình nghiên cứu, chất lượng của nhóm chủ trì đề tài nghiên cứu, tính khả thi và ngân sách nghiên cứu.

Mỗi tiêu chí có một loạt tiêu chuẩn để người bình duyệt có thể cho điểm. Chẳng hạn như tiêu chí chất lượng có những tiêu chuẩn cụ thể như ý tưởng hay và mới của đề tài nghiên cứu, cách tiếp cận sáng tạo. Chất lượng của nhóm nghiên cứu cũng được đánh giá qua một loạt tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu trong quá khứ, thành tích công bố quốc tế và uy tín trên trường quốc tế. Một khía cạnh quan trọng khác hội đồng cũng xem xét đến là khả năng đóng góp của đề tài nghiên cứu cho sự thịnh vượng và uy danh của quốc gia trên thế giới.

Như một quy luật, hội đồng chọn ra những đề tài có điểm cao nhất để tài trợ. Nhưng điểm chuẩn này thay đổi hằng năm tùy theo ngân sách nhà nước cung cấp. Ở Úc, trong ngành y sinh học chỉ có 10-15% đề cương có điểm cao nhất được đề nghị tài trợ. Bộ trưởng khoa học căn cứ vào đề nghị của hội đồng xét duyệt và ký phê chuẩn tài trợ cho công trình nghiên cứu.

Đó là quy trình chuẩn trong xét duyệt tài trợ đề tài nghiên cứu. Quy trình này có tên tiếng Anh là “peer review”, mà tôi tạm dịch là “bình duyệt”, đã tồn tại trên 100 năm trong thế giới khoa học phương Tây. Quy trình chuẩn này còn được áp dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, kể cả ở các nước đang phát triển.

Tuy quy trình bình duyệt mô tả trên được xem là “chuẩn vàng” nhưng trong thực tế có rất nhiều vấn đề. Những vấn đề nổi cộm là tính chủ quan trong việc xét duyệt, mâu thuẫn quyền lợi, chủ nghĩa thân hữu, khả năng chuyên môn hạn chế và đánh giá qua loa.

Các chuyên gia phục vụ trong các hội đồng xét duyệt cũng chỉ là những con người chịu sự chi phối của cảm tính và có khi rất chủ quan trong việc đánh giá. Do đó, điểm của các chuyên gia bình duyệt thường không có độ nhất quán cao. Có những đề cương nghiên cứu chuyên gia bình duyệt cho điểm rất cao nhưng lại có chuyên gia cho điểm rất thấp. Nhưng giả định là số đông sẽ trung bình hóa và đáng tin cậy hơn là cá nhân đơn lẻ.

Một số người do cạnh tranh trong chuyên ngành nên có thể tìm cách “làm khó” người chủ trì đề tài nghiên cứu. Ngược lại, với nhiều trường hợp, người ngồi trong hội đồng bình duyệt có quan hệ chuyên môn hay cá nhân với chủ đề tài, do đó phán xét của họ có thể không hoàn toàn khách quan.

Một vấn đề phổ biến khác là nhiều trường hợp người ngồi trong hội đồng xét duyệt không có chuyên môn tốt để đánh giá đề tài nghiên cứu, nên họ có thể đánh giá sai hoặc đánh giá qua loa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết cục của đề tài nghiên cứu. Tuy quy trình bình duyệt có nhiều vấn đề nhưng trong thực tế đó là quy trình tốt nhất hiện nay trong các phương pháp đánh giá đề tài nghiên cứu.

Ở Việt Nam, trên nguyên tắc, quyết định tài trợ cho nghiên cứu khoa học cũng được giao cho giới khoa học. Chẳng hạn như quy trình xét duyệt đề tài nghiên cứu của Quỹ NAFOSTED là khá gần với quy trình chuẩn ở các nước phương Tây. Ở cấp tỉnh thành cũng có những hội đồng xét duyệt nhưng do thiếu nhân sự nên vẫn còn khá nhiều bất cập.

Có những người “ngồi nhầm chỗ”, tức những người chưa bao giờ làm nghiên cứu và chưa bao giờ được tài trợ cho nghiên cứu, nhưng lại ngồi trong các hội đồng xét duyệt đề tài của người đã có tài trợ và làm nghiên cứu khoa học! Tình trạng ngồi nhầm chỗ khá phổ biến ở các cấp tỉnh thành, do một phần rất khó tìm những chuyên gia thích hợp và có tư cách khoa học (như có công bố quốc tế tốt và uy tín trong chuyên ngành) để phục vụ trong các hội đồng xét duyệt.

Ngoài ra, còn có vấn đề mâu thuẫn quyền lợi và quan hệ cá nhân nên hệ quả là kết quả bình duyệt không mang tính thuyết phục cao. Nhiều đề tài nghiên cứu chất lượng thấp lại nhận được tài trợ, ngược lại những đề tài có chất lượng cao và mới thì bị bác bỏ.Sự bất cập này gây tác hại về tâm lý rất lớn đến giới nghiên cứu vì họ không tin vào tư cách chuyên môn của hội đồng xét duyệt, do đó không muốn nộp đề cương nghiên cứu.

Yếu tố chính trị

Tài trợ cho nghiên cứu khoa học qua quy trình bình duyệt có những điểm yếu đáng kể. Ngoài những vấn đề nêu trên, các hội đồng bình duyệt thường có xu hướng tài trợ các trường nổi tiếng hoặc các viện đẳng cấp “tinh hoa” (elite).

Các hội đồng bình duyệt cũng có khuynh hướng chọn những đề tài an toàn, những đề tài tuân theo các trường phái hiện hành, do đó các đề tài mang tính đột phá thường bị bác bỏ. Thật vậy, rất nhiều đề tài nghiên cứu mà sau này được trao giải thưởng Nobel dù trước đó hay bị các hội đồng bình duyệt từ chối tài trợ.

Để đáp ứng những phê phán chính đáng của giới khoa học và để yểm trợ những nhà khoa học có viễn kiến tốt, chính phủ tạo ra một cơ chế tài trợ khoa học mới và đặc biệt, mà tiếng Anh hay gọi là “academic earmarking” - có thể hiểu là quỹ đặc biệt.

Đây là một cơ chế tài trợ mang tính chính trị, và do đó bỏ qua quy trình bình duyệt chuẩn trong khoa học. Chỉ riêng năm 2003, Quốc hội Mỹ dành ra một ngân sách 2 tỉ USD cho quỹ đặc biệt để tài trợ 1.964 dự án đặc biệt.

Như có thể hiểu được, cơ chế tài trợ theo quỹ đặc biệt này gây ra nhiều tranh cãi dai dẳng. Giới khoa học quá quen thuộc với quy trình bình duyệt công khai gièm pha và chỉ trích các quỹ đặc biệt, vì chúng có thể đe dọa đến sự liêm chính của khoa học và giảm ngân sách cho nghiên cứu khoa học.

Nhưng ngược lại, những nhà khoa học được tài trợ từ các quỹ đặc biệt thì hoan hỉ vì họ không phải bị “hành” bởi các hội đồng bình duyệt mà có khi họ không cảm thấy thuyết phục.

Ở Việt Nam, ngoài quy trình bình duyệt chuẩn trên, thỉnh thoảng đó đây vẫn có những quyết định tài trợ cho khoa học mà không dựa vào một hội đồng xét duyệt nào. Những quyết định có thể mang tính chính trị như thế, trước là minh chứng cho sự quan tâm của giới lãnh đạo đến khoa học, sau là gieo một niềm tin mới cho giới khoa học, nhất là những người ở giai đoạn đầu trong sự nghiệp khoa học. Dĩ nhiên, những quyết định như thế này cũng làm các nhà khoa học trong cơ chế bình duyệt cảm thấy họ không được đối xử công bằng.

Rốt cuộc thì câu hỏi cần phải trả lời là nhà nước muốn tài trợ cho khoa học như thế nào? Trong khi các chương trình tài trợ theo cơ chế quỹ đặc biệt tăng theo thời gian, nhiều câu hỏi khác được đặt ra: Tài trợ cho khoa học có nên quyết định bởi những chính trị gia?

Quỹ đặc biệt có hiệu quả nâng cao năng lực khoa học của các trường đại học? Quỹ đặc biệt có duy trì hay nâng cao khả năng sáng tạo khoa học của một quốc gia hay không? Một trong những nguy cơ có thể thấy trước là một khi cơ chế tài trợ khoa học từ các quỹ đặc biệt trở thành thường quy sẽ tạo ra một kỹ nghệ vận động hành lang của các trường đại học hay viện nghiên cứu với hệ quả là các chuẩn mực vàng như công bằng và khoa học sẽ bị đe dọa.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Qui trình bổ nhiệm giáo sư ở Úc

Theo dõi thông tin chung quanh câu chuyện trường đại học bổ nhiệm giáo sư, tôi thấy có khá nhiều thông tin nhiễu. Điều đáng nói là những người cho rằng họ am hiểu cách bổ nhiệm giáo sư ở nước ngoài! Tôi trình bày trên VNexpress.net về cách mà ở Úc này họ làm để mọi người rõ hơn về qui trình.



Chẳng hạn như ý kiến của một vị phó giáo sư được giới thiệu là có "nhiều kinh nghiệm về giáo dục nước ngoài" cho rằng ở nước ngoài người ta có những hiệp hội định chuẩn giáo sư (1). Thú thật, tôi không rõ nước nào mà có hiệp hội làm cái việc định chuẩn giáo sư. Ở Úc và Mĩ mà tôi biết khá rõ thì không có hiệp hội nào định chuẩn giáo sư cả. Ngay cả ở các nước trong vùng Đông Nam Á cũng chẳng có hiệp hội nào như thế cả. Tất cả việc bổ nhiệm và đề bạt là qua qui trình bình duyệt, giống như bình duyệt bài báo khoa học, nhưng qui trình khắt khe hơn.

Trên báo chí thì thấy một vị phó giáo sư khác là anh bạn tôi trả lời trên Vietnamnet (2) cũng có vài điểm cần xem lại. Anh bạn tôi nói rằng "Từ kinh nghiệm học và làm việc ở Úc, Mỹ [...] chỉ có một giáo sư ở một ngành đó thôi cho đến khi có người khác được thay, hoặc tuyển GS cho chức danh của nhà trường."

Sai. Ở Úc, một Department trong một School có thể có nhiều giáo sư, chứ không phải chỉ một. Chẳng hạn như bộ môn Aero/Mech Engineering của UNSW đã có hơn 5 giáo sư. Thời của anh và tôi còn học thì gần gần như anh nói, tức mỗi bộ môn chỉ có 1 full professor, còn lại là các associate professor (xếp hàng chờ sếp nghỉ hưu để tranh nhau lên -- nói đùa). Thời đó, ở Mĩ mỗi department có nhiều giáo sư, nên các giáo sư Úc bỏ qua Mĩ nhiều lắm. Khoảng 30 năm trước, Úc đã thay đổi hệ thống đó, và mỗi department có nhiều giáo sư. Một bộ môn hay School có nhiều giáo sư là điều rất bình thường.

Còn những câu trả lời khác của anh bạn tôi nói cũng cần bàn thêm. Ví dụ anh ấy nói rằng ĐH Tôn Đức Thắng chưa đủ tư cách học thuật để bổ nhiệm giáo sư, hay qui trình bỏ phiếu, hay tiêu chuẩn bổ nhiệm, v.v. tất cả đều chưa đạt, nếu không muốn nói là hời hợt. Tôi nghĩ có thể trong một thời gian dài anh ấy đã không cập nhật "luật chơi" khoa học.

Sẵn đây, tôi xin chia sẻ cái qui trình mà bên Úc họ làm để các bạn có thể tham khảo (3). Hầu như năm nào tôi cũng được mời duyệt một hồ sơ giáo sư cho các đồng nghiệp từ nhiều nơi trên thế giới. Từ UCSD, UCLA, Maryland, Phần Lan, Hoà Lan, đến các đại học bên Úc như Sydney, Griffith, Tasmania, đến các đại học bên Hồng Kông, Saudi Arabia, tất cả đều làm giống nhau: bình duyệt. Chẳng có hiệp hội nào định chuẩn giáo sư cả.

Tôi nghĩ việc giao cho đồng nghiệp bình duyệt cũng giống như là "gác đền". Người được giao nhiệm vụ bình duyệt hồ sơ ứng viên giáo sư chỉ đơn giản là kẻ gác đền học thuật. Kẻ gác đền phải "xem chân xét cẳng" ứng viên có đủ tư cách cho vào đền không. Nói một cách nghiêm chỉnh hơn, mục tiêu của bổ nhiệm hay đề bạt giáo sư là (1) để ghi nhận và tưởng thưởng công trạng ứng viên vì những đóng góp cho khoa học và cộng đồng; và (2) để nhận dạng những "ngôi sao" khoa học tương lai. Do đó, giao cho nhà trường và cộng đồng khoa học bổ nhiệm giáo sư là hợp lí.

=========




Dư luận có nhiều ý kiến trái chiều khi Đại học Tôn Đức Thắng muốn có quyền bổ nhiệm giáo sư. Điều này dễ hiểu vì ở Việt Nam, việc một trường đại học bổ nhiệm giáo sư vẫn còn rất mới và gây nhiều lo ngại. Nhưng ở nước ngoài, như Australia chẳng hạn, các trường đại học có chính sách và tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo sư từ lâu. Trong bài này tôi muốn trình bày một vài kinh nghiệm từ Australia để tham khảo và hy vọng góp phần nâng cao sự hội nhập quốc tế của ngành giáo dục nước ta.

Các đại học ở Australia có 4 chức danh khoa bảng: lecturer (giảng viên), senior lecturer (giảng viên cao cấp), associate professor (phó giáo sư ) và professor (giáo sư). Nhưng ở các đại học Mỹ có 3 chức danh professor: đó là assistant professor, associate professor, và professor. Chữ assistant professor rất khó dịch sang tiếng Việt, vì tuy mang danh là “assistant professor” (phụ trợ) nhưng những người có chức danh này chẳng phụ tá cho ai cả mà đã là một nhà nghiên cứu độc lập. Ở cả hai hệ thống, professor là chức danh cao nhất trong hệ thống học hàm đại học. Ở Australia cũng như ở Mỹ, giáo sư là một chức vụ (position), chứ không phải chức danh hay phẩm hàm theo cách hiểu ở Việt Nam.

Không như ở Việt Nam chỉ có những tiêu chuẩn chung chung, các trường đại học ở Australia và Mỹ đề bạt chức danh này dựa theo ngạch và dựa vào những tiêu chí cụ thể, tiêu chuẩn rất khác nhau. Trong bài này tôi chỉ bàn về hai chức danh phó giáo sư và giáo sư, và sẽ gọi chung là “giáo sư”.

Quy trình

Quy trình đề bạt nói chung khá đơn giản, và theo đúng nguyên lý cơ bản của hoạt động khoa học, đó là bình duyệt (peer review). Có thể tóm gọn trong 3 bước chính, đầu tiên là đệ đơn (nộp hồ sơ xin đề bạt), sau đó là bình duyệt, và sau cùng là phỏng vấn ứng viên.

Ứng viên phải soạn một đơn xin đề bạt. Trong đơn này, ứng viên phải giải trình thành tích khoa học của mình một cách cụ thể dựa theo những tiêu chuẩn trên. Cụ thể ở đây có nghĩa là phải trình bày những số liệu, biểu đồ, phân tích nhằm thuyết phục hội đồng khoa bảng rằng ứng viên đạt tiêu chuẩn của một giáo sư. Một điều rất quan trọng là ứng viên phải chỉ ra cho được mình tương đương với ai trên thế giới. Nếu ứng viên xin đề bạt chức danh giáo sư thì phải chỉ ra cho được mình đã tương đương với người đã được công nhận chức danh giáo sư trên thế giới.

Bình duyệt đơn được thực hiện qua 2 phía: cá nhân và đại học. Về phía cá nhân, ứng viên có quyền chọn 4 người bình duyệt (referee) cho đơn mình, và trường đại học có trách nhiệm phải gửi hồ sơ đến 4 người bình duyệt này. Bốn người này có thể là đồng nghiệp của ứng viên, và cũng có thể là người nước ngoài hay ngoài trường đại học. Về phía đại học, họ cũng đề cử 4-6 người bình duyệt do trường chọn. Dựa vào danh sách này, hội đồng khoa bảng sẽ chọn 2 hoặc 3 người bình duyệt hồ sơ. Ứng viên không biết hội đồng sẽ chọn ai trong danh sách. Phần lớn trường hợp, hội đồng chỉ chọn các nhà khoa học ngoài trường và một số từ nước ngoài, chứ ít khi nào chọn người trong trường.

Mỗi người bình duyệt sẽ viết một báo cáo đánh giá ứng viên dựa vào các tiêu chí (nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lãnh đạo, phục vụ) và tiêu chuẩn (trung bình, giỏi, xuất sắc, nổi trội) mà trường đại học đưa ra. Một trong những điểm mà trường yêu cầu người bình duyệt phải chỉ ra cho được là ứng viên tương đương với ai (cụ thể là những giáo sư nào, tên tuổi, ở đâu, địa chỉ) trong ngành trên thế giới. Đây cũng là cách trường muốn kiểm tra và so sánh thêm về thành tích khoa học của ứng viên. Đến phần cuối của báo cáo bình duyệt, hội đồng khoa bảng yêu cầu người bình duyệt phải xếp hạng ứng viên vào hạng mấy trên thế giới (chuyên ngành): top 1%, 5% 10%, hay 20%.

Sau khi nhận được các báo cáo này, hội đồng khoa bảng sẽ tổ chức một buổi phỏng vấn ứng viên. Sau khi phỏng vấn, họ sẽ viết một đề nghị lên hiệu trưởng đại học để chính thức công bố kết quả. Nếu thất bại (không được đề bạt), ứng viên có quyền khiếu nại và yêu cầu đánh giá lại. Trong trường hợp này (hiếm xảy ra), hội đồng khoa bảng sẽ chuyển hồ sơ của ứng viên đến một hội đồng khác mà trong thực tế là một hội đồng khoa bảng mới để xem xét hồ sơ.

Ngạch đề bạt

Ở Australia, các đại học đề bạt giáo sư theo hai ngạch: nghiên cứu khoa học (research) và giảng dạy (teaching). Ứng viên phải chọn ngạch mà mình muốn đề bạt. Chẳng hạn công việc của ứng viên phần lớn là nghiên cứu khoa học và ít giảng dạy, nên chỉ có thể chọn ngạch nghiên cứu; nếu ứng viên chọn ngạch đề bạt là giảng dạy thì chắc chắn không đủ tiêu chuẩn để được đề bạt chức danh giáo sư.

Tiêu chí

Bất kể chọn ngạch nghiên cứu hay giảng dạy, ứng viên sẽ được xét dựa vào 4 tiêu chí như sau: thành tựu nghiên cứu khoa học (research output), lãnh đạo (leadership), giảng dạy (teaching), và phục vụ (services). Tất nhiên, nếu ứng viên chọn ngạch nghiên cứu thì hội đồng khoa bảng sẽ đặt nặng tiêu chí nghiên cứu hơn là 3 tiêu chí kia. Tương tự, nếu ứng viên chọn ngạch giảng dạy, ngoài thành tích giảng dạy, hội đồng khoa bảng vẫn phải xem xét đến thành tựu nghiên cứu của ứng viên chứ không phải chỉ một tiêu chí.

Điều này có nghĩa là một giáo sư phải đáp ứng tất cả 4 tiêu chí, nhưng tiêu chuẩn thì khác nhau cho từng tiêu chí mà ứng viên chọn ngạch được đề bạt, không có ngoại lệ. Không phải chỉ công bố một công trình tuyệt vời nào đó là tự động được chức danh giáo sư. Ở Australia và Mỹ, tôi biết nhiều người trẻ có những công trình trên những tập san danh tiếng như Science, Nature, Cell… nhưng vẫn chưa được đề bạt giáo sư. Điều này dễ hiểu vì để được đề bạt chức danh giáo sư thì ứng viên phải đáp ứng 4 tiêu chí mà họ chọn.

Nghiên cứu khoa học ở đây bao gồm số lượng và chất lượng công trình nghiên cứu đã công bố trên tập san quốc tế. Ngoài ra, các bằng sáng chế (patents) cũng được xếp trong tiêu chí này. Hội đồng khoa bảng dựa vào những chỉ số như hệ số ảnh hưởng (impact factor, IF) của tập san và chỉ số H (còn gọi là chỉ số Hirsch, hay H index) của cá nhân ứng viên. Không có con số cụ thể về IF để đánh giá chất lượng cao hay thấp, bởi vì IF quá tùy thuộc vào từng bộ môn khoa học, nhưng nói chung, hội đồng chú ý đến những bài báo được công bố trên những tập san hàng đầu trong chuyên ngành. Chỉ số H rất quan trọng, vì quyết định một phần sự thành bại của ứng viên. Các trường đại học danh tiếng và lớn bên Mỹ thường đòi hỏi ứng viên phải có chỉ số H tối thiểu là 15 (thường là 20) để được đề bạt chức danh professor.

Không có ngưỡng cụ thể về số bằng sáng chế bao nhiêu để đề bạt, nhưng hội đồng khoa bảng rất chú ý đến những nghiên cứu làm thay đổi định hướng của chuyên ngành, những nghiên cứu mở ra một hướng đi mới cho khoa học, những nghiên cứu mà kết quả được ứng dụng rộng rãi và đem lại lợi ích cho người bệnh cũng như công chúng.

Ngoài ra, số lượng công trình mà ứng viên chủ trì và giá trị tài trợ mà ứng viên thu hút từ các nguồn khác nhau cũng được xem là một chỉ tiêu về thành tựu nghiên cứu. Theo một quy ước bất thành văn, ở cấp giáo sư (ngành khoa học thực nghiệm), người ta kỳ vọng ứng viên phải thu hút trên 2 triệu USD cho nghiên cứu.

Giảng dạy và đào tạo (teaching and mentorship) là những chỉ tiêu về số course học mà ứng viên thiết kế và giảng dạy. Ứng viên phải trình bày rất chi tiết về số sinh viên, đánh giá của sinh viên ra sao, và thành tựu trong giảng dạy. Tôi từng thấy có ứng viên đem cả băng video và DVD để chứng minh khả năng giảng dạy của mình cho hội đồng khoa bảng xem xét.

Đối với các ứng viên chọn ngạch nghiên cứu thì giảng dạy chính là số sinh viên cấp thạc sĩ và tiến sĩ họ đã hướng dẫn thành công. Những sinh viên này hiện giờ ở đâu, làm gì, thành đạt gì trong sự nghiệp. Ngoài ra, ứng viên còn phải trình bày số nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) đến “đầu quân” làm việc cho nhóm của mình, và sự nghiệp của các postdoc này hiện nay như thế nào. Trong phần này, ứng viên cũng có thể viết về những khóa học ngắn hạn hay những seminar mang tính giáo dục cho đồng nghiệp mà ứng viên đã thực hiện.

Lãnh đạo không phải là lãnh đạo hành chính, mà là đi đầu trong một lĩnh vực nghiên cứu. Không có những thước đo cụ thể về tiêu chuẩn này, nhưng những “tín hiệu” sau đây được xem là liên quan đến “lãnh đạo”: được mời viết xã luận (editorial), bình luận (commentary), bài tổng quan (invited review), được mời thuyết giảng trong các hội nghị lớn tầm quốc tế (còn gọi là invited lecture, keynote lecture…) mà ban tổ chức tài trợ hoàn toàn, được mời tham gia soạn thảo chương trình khoa học cho hội nghị, đóng vai trò chủ tọa hội nghị…

Phục vụ ở đây là phục vụ cho chuyên ngành và cộng đồng. Hội đồng thường xem xét đến những đóng góp cho các tập san khoa học trong vai trò phản biện, bình duyệt (referee hay reviewer), hay cao hơn là được mời làm thành viên của ban biên tập cho tập san, hoặc cao hơn là đóng vai trò tổng biên tập và phó biên tập của các tập san khoa học quốc tế. Phục vụ trong các hiệp hội khoa học cũng được xem là một chỉ tiêu quan trọng. Ngoài ra, hội đồng cũng xét duyệt đến những cống hiến bình duyệt đơn xin tài trợ, tham gia bình duyệt luận án tiến sĩ cho các đại học nước ngoài, tham gia bình duyệt đơn xin đề bạt của đồng nghiệp nước ngoài. Đó là những “chỉ tiêu” được xem là đóng góp, phục vụ cho chuyên ngành.

Hội đồng còn xem xét đến những phục vụ cho cộng đồng qua những bài viết trên báo chí đại chúng, những bài viết trên các tạp chí khoa học phổ thông, những ý kiến liên quan đến xã hội hay cố vấn cho Nhà nước.

Tiêu chuẩn

Mỗi tiêu chí được đánh giá bằng 4 tiêu chuẩn như sau: trung bình, trên trung bình, xuất sắc, và nổi trội. Trung bình có nghĩa là đóng góp ở mức độ kỳ vọng của chức vụ hiện tại, tức là nằm trong hạng top 50%. Trên trung bình là đóng góp ở mức trên những gì kỳ vọng trong chức danh hiện hành, tính theo hạng thì mức độ này là top 30%. Xuất sắc là đóng góp nằm vào top 10% của chức vụ hiện hành. Còn nổi trội là những đóng góp đem lại tên tuổi cho trường đại học, những đóng góp thuộc vào hàng “top 5%” của chuyên ngành.

Do đó, nếu ứng viên chọn ngạch đề bạt là nghiên cứu thì hội đồng khoa bảng đòi hỏi ứng viên phải thuộc hạng xuất sắc (outstanding) và nổi trội trong nghiên cứu, và trên trung bình ở các tiêu chí lãnh đạo, giảng dạy và phục vụ. Nếu ứng viên chọn ngạch đề bạt là giảng dạy thì phải đáp ứng tiêu chuẩn giảng dạy xuất sắc trở lên, nhưng các tiêu chí nghiên cứu, lãnh đạo và phục vụ thì trung bình hay trên trung bình cũng được.

Kinh nghiệm cho Việt Nam

Đối chiếu những tiêu chí và tiêu chuẩn này với tiêu chuẩn của Việt Nam, tôi thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có cố gắng làm theo nước ngoài, nhưng… chẳng giống ai. Những tiêu chí và tiêu chuẩn mới công bố không phân biệt được ngạch đề bạt (giảng dạy và nghiên cứu). Ngoài ra, những tiêu chuẩn rất phức tạp, máy móc, tính toán theo kiểu “cân đo đong đếm” rất phi khoa học. Tiêu chuẩn tiếng Anh có thể cần thiết nhưng tôi thấy khá mù mờ, vì rất khó định nghĩa được thế nào là “có khả năng giao tiếp”.

Qua những gì trình bày ở trên, tôi nghĩ rằng có một số kinh nghiệm, bài học có thể áp dụng ở Việt Nam:

Thứ nhất là nên phân chia ngạch đề bạt. Ở nước ta có nhiều người mà nhiệm vụ chính là giảng dạy, và xét phong giáo sư cho những người này không nên đặt nặng vào những tiêu chí liên quan đến nghiên cứu khoa học. Do đó, cần có những tiêu chuẩn cho những người chuyên về giảng dạy, nghiên cứu, và thậm chí phục vụ. Có người tuy không giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhưng có thành tích trong việc phục vụ và quản lý, thì chúng ta cũng nên có cơ chế để công nhận đóng góp của họ. Ở Đại học New South Wales (Australia) có người từng là chính trị gia, nhưng vì có nhiều đóng góp cho ngành y tế cộng đồng nên cũng được tiến phong giáo sư y khoa.

Thứ hai là không nên có những tiêu chuẩn cứng nhắc theo kiểu cân đo đong đếm. Trái với các tiêu chuẩn đề bạt trong nước về đề bạt chức danh khoa bảng bằng cách tính điểm bài báo, ở nước ngoài người ta không có những điểm cụ thể, mà chỉ đánh giá mang tính nửa lượng nửa chất. Về lượng, họ xem xét đến hệ số ảnh hưởng của tập san, chỉ số trích dẫn của các bài báo khoa học đã công bố, và nhất là chỉ số H của ứng viên. Họ không đề ra những con số bài báo cụ thể phải là bao nhiêu để được đề bạt. Những chỉ số chỉ mang tính tham khảo, vì họ còn phải đánh giá số lượng bài báo được mời đóng góp hay những lần giảng tại hội nghị quốc tế được ban tổ chức mời và chi trả.

Thứ ba là vận dụng tối đa hệ thống bình duyệt (peer review). Không như ở một số nước việc bình duyệt chức danh khoa bảng được thực hiện bằng cách bỏ phiếu kín, ở nhiều trường bên Australia và Mỹ, người ta sử dụng hệ thống bình duyệt do chính các đồng nghiệp của ứng viên làm. Triết lý đằng sau cách làm này là chỉ có đồng nghiệp cùng chuyên môn với ứng viên là những người đánh giá chính xác nhất về thành tựu và uy tín của ứng viên. Ngoài ra, để cho đồng nghiệp trong và ngoài đánh giá còn đảm bảo tính khách quan trong quá trình đề bạt.

Thứ tư là tính minh bạch. Tất cả chi tiết về thủ tục và tiêu chuẩn đề bạt cho từng chức vụ đều được phổ biến trên Internet. Ngoài ra, danh sách người trong hội đồng phỏng vấn và lĩnh vực nghiên cứu cần được công bố cho ứng viên biết trước. Thành phần hội đồng phỏng vấn được tuyển chọn sao cho đảm bảo bình đẳng giới tính, khoa học và ngoài khoa học, trong và ngoài đại học… Tính minh bạch còn thể hiện qua quy định ứng viên có quyền được xem các báo cáo bình duyệt của đồng nghiệp. Ngoài ra, phải có cơ chế để ứng viên “khiếu nại” nếu đơn xin đề bạt không thành công.

Cố nhiên, tình hình thực tế ở Việt Nam không thể ứng dụng các tiêu chuẩn Âu Mỹ để đề bạt giáo sư, nhưng tôi nghĩ có thể dựa vào các tiêu chí quốc tế như là một bước đầu trong quá trình hội nhập quốc tế. Cần phải chuyển hướng suy nghĩ giáo sư là một chức vụ, chứ không phải là phẩm hàm. Mà, chức vụ là phải gắn liền với một đại học, và do đó nên trao quyền bổ nhiệm giáo sư cho đại học. Vấn đề là tạo ra quy trình minh bạch và công bằng, chứ không phải những thủ tục rườm rà và tiêu chí không giống ai. Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể đề ra quy trình để các đại học làm theo, nhưng không nên can thiệp vào việc bổ nhiệm.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác