Hiển thị các bài đăng có nhãn năng suất khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn năng suất khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Vượt Thái Lan chỉ số đổi mới toàn cầu: Đừng tự mãn!


Đây là một trao đổi ngắn giữa phóng viên báo ĐV và tôi xung quanh thông tin mới đây về năng suất khoa học của vài đại học Việt Nam. Bài phỏng vấn bàn về mô hình hoạt động khoa học sao cho có hiệu quả, và tôi có dịp thổ lộ một chút suy nghĩ ... 



====


Vượt Thái Lan chỉ số đổi mới toàn cầu: Đừng tự mãn!
PV: Vừa qua, kết quả thống kê có tính chất tham khảo của hai nghiên cứu sinh Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền theo cách tính số lượng bài báo công bố trên ISI trên tổng số cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ, của một số đại học có số lượng công bố quốc tế hàng đầu Việt Nam tính từ đầu năm 2015 đến nay, bằng cách tổng hợp dữ liệu từ trang Web of Science.

Kết quả có chỉ rõ, Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) và Đại học Tôn Đức Thắng là hai trường có số lượng công bố quốc tế lớn nhất. Trong khi, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh có số lượng tiến sĩ nhiều nhất nhưng số lượng công bố quốc tế lại thấp hơn rất nhiều. Ông có bất ngờ trước nghịch lý này hay không? Theo ông, đây chỉ là hiện tượng nhất thời hay dự báo xu hướng gì?

NVT: Tôi nghĩ những nỗ lực của hai tác giả Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền là rất quí, họ làm việc nghiêm túc và dựa vào nguồn dữ liệu đáng tin cậy. Qua đó họ đã gióng một tiếng nói báo động về năng suất khoa học của các trường đại học lớn của Việt Nam. Dĩ nhiên, có người suy nghĩ khác, nhưng đây là bước đầu nên còn nhiều cải tiến trong tương lai.

Tôi không bất ngờ lắm về kết quả của hai tác giả Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền, vì năm ngoái tôi cũng có làm một phân tích tương tự, và kết quả cũng cho thấy một số đại học mới và tương đối nhỏ đang trên đà tăng trưởng nghiên cứu khoa học rất nhanh. Đáng kể là những trường đại học Duy Tân, Tôn Đức Thắng, Đồng Tháp, Nha Trang.

Số lượng tiến sĩ và giáo sư nhiều không có nghĩa là mặc nhiên có năng suất khoa học cao. Trong thực tế, theo kinh nghiệm của tôi, ở bất cứ đại học nào trong hay ngoài nước chỉ có một số ít giáo sư và tiến sĩ thường xuyên nghiên cứu khoa học, và chính số này quyết định năng suất cho toàn trường.

Do đó, vấn đề là làm sao tạo động lực cho phần còn lại để tham gia vào nghiên cứu khoa học, và trường nào làm được việc này thì sẽ nắm thế thượng phong. Tôi nghĩ hai đại học Duy Tân và Tôn Đức Thắng đã biết được cái "bí quyết" đó nên họ tiến nhanh là điều không ngạc nhiên.

PV: Theo chia sẻ của lãnh đạo trường ĐH Duy Tân thì để có được năng suất nghiên cứu khoa học cao, cũng như số lượng công bố quốc tế lớn, thì nhà trường phải mở rộng hợp tác quốc tế đặc biệt theo chiến lược "đứng trên vai của những người khổng lồ", đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, cũng như nguồn kinh phí để khuyến khích phát triển khoa học. Với cách làm khoa học như của ĐH Duy Tân có đáng để chúng ta tham khảo hay không?

Cách làm này thì có thể tăng số lượng công bố quốc tế, nhưng tác động của nó với việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Việt Nam thì phải nhìn nhận ra sao, thưa ông?

NVT: Thật ra, hiện nay, khoảng 70-80% bài báo khoa học của Việt Nam là do hợp tác với nước ngoài, và một số lớn là do nhà khoa học nước ngoài chủ trì. Đó là tình trạng chung của nước và của các đại học lớn. Ngay cả những công trình “đình đám” trên báo chí gần đây cũng là của nước ngoài chủ trì. Nhưng điều đáng mừng là các đại học nhỏ, như ĐH Tôn Đức Thắng chẳng hạn, thì phần lớn công trình là do Trường đầu tư và nhà khoa học của Trường chủ trì.

Nhiều người cũng phân vân về mô hình nghiên cứu khoa học của Trường đại học Duy Tân, nhưng tôi thấy việc họ làm là bình thường. Trong khi thực lực khoa học còn thấp, thì Trường phải tìm cách nâng cao năng lực từ các nguồn, kể cả Việt kiều ở nước ngoài. Ở nước ngoài các đại học đều tăng cường hợp tác để trước hết là xây dựng năng lực khoa học cho trường, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, và sau là nâng cao năng suất khoa học. Đó cũng là chủ trương chung của Việt Nam, tức là thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài về hợp tác nghiên cứu. Trong khi cả nước nói chung chưa làm thành công, nhưng có những đại học làm được thì cần khuyến khích.

Tôi biết một số trường đại học Việt Nam đầu tư mạnh cho nghiên cứu khoa học, bằng cách lập labo và nhóm nghiên cứu chuyên sâu. Chẳng hạn như Đại học Quốc gia TPHCM đầu tư xây dựng labo cho một số nhà khoa học nước ngoài về làm việc. Tương tự và trước đó, Trường Đại học Tôn Đức Thắng cũng đã đầu tư lập hơn 20 labo và nhóm nghiên cứu, và chính những labo này nâng cao năng suất khoa học cho nhà trường. Tôi biết ĐH Duy Tân cũng theo mô hình này. Tôi nghĩ đây là mô hình rất tốt, theo xu hướng chung trên thế giới, và là một cách triển khai chủ trương của Nhà nước. 

Cũng cần nói thêm là chúng ta nên tránh "mô hình" mua bài báo khoa học mà một số đại học ở Saudi Arabia làm. Những đại học đó rất giàu, họ có cách làm khá đặc thù: họ đi tìm những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, viết thư cho họ và đề nghị để tên trường của Saudi Arabia vào bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố, và trường sẽ trả vài chục ngàn USD cho mỗi bài báo.
Chúng ta phải tuyệt đồi tránh tình trạng đó, vì làm như thế chẳng xây dựng được năng lực khoa học cho trường và cho Việt Nam.


Con người là yếu tố quan trọng nhất

PV: Theo ông có cách nào để nâng cao năng lực khoa học, và nâng cao năng suất khoa học cho Việt Nam?

NVT: Đây là một câu hỏi lớn và làm tôi càng ngày càng … bạc đầu. Tôi có dịp đi đây đó ở Á châu và xuất phát từ kinh nghiệm thực tế, tôi tin rằng chìa khoá nằm ở 4 yếu tố: con người; năng lực và chất lượng khoa học; môi trường khoa học; và tổ chức và quản lí.

Trong một hội thảo về khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ở Hạ Long vào tháng 5 năm nay, tôi có đề ra những biện pháp để thu hút nhân tài từ nước ngoài, tạo môi trường tự do học thuật, tổ chức lại hệ thống phân phối tài trợ cho nghiên cứu, và tinh giản bộ máy quản lí khoa học.
Tôi nghĩ con người là chìa khoá quan trọng nhất, là yếu tố và cũng là điều kiện số 1 để xây dựng và thúc đẩy một nền khoa học có cơ may phát triển bền vững. Nghiên cứu khoa học, cũng như bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, bắt đầu từ các nhà khoa học.

Uy danh của một nền khoa học được xây dựng trên một tập thể những nhà khoa học có uy tín và có "tên tuổi" trên trường quốc tế. Họ là thành phần ưu tú (hay elite) trong cộng đồng khoa học, đóng vai trò lãnh đạo và đề ra viễn kiến, định hướng nghiên cứu, và chuyển gia thành quả nghiên cứu đến kĩ nghệ.

Ở nước ta hiện nay, số nhà khoa học hạng elite cấp quốc tế còn rất ít. Nếu tính theo chỉ số H trên 20 (chỉ là một cách tính thô) thì số nhà khoa học Việt Nam có chỉ số như thế chỉ khoảng 20 người.
Do đó, tôi đề nghị Chính phủ nên thiết lập các chương trình nghiên cứu (ở nước ngoài có khi người ta gọi là “fellowship program”). Tôi đề nghị gọi chương trình này là “Vietnam Fellowship Program” (VFP).

Tôi nghĩ đến chương trình VFP này nên nhắm vào 5 mục tiêu chính là: Một là, khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú; hai là, đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”); ba là, xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ.

Bốn là, khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia; và năm là, khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ.

Nói tóm lại, mục tiêu chính của VFP là nhắm vào việc xây dựng một cộng đồng khoa học gia loại “hoa tiêu” để nâng cao tính cạnh tranh của nước ta trên trường khoa học quốc tế. Hiện nay, các đại học như Duy Tân và Tôn Đức Thắng đã làm gần giống như VFP, nhưng họ không trả lương, và cũng không gọi theo cách gọi đó.

PV: Vừa rồi, giới khoa học chính thống Việt Nam hồ hởi trước thông tin chỉ số đổi mới toàn cầu của Việt Nam cao hơn Thái Lan nhưng xem xét các yếu tố thì điểm sáng tạo của VN lại kém xa nước bạn xin ông chia sẻ thêm về vấn đề này? Phản ứng của giới khoa học chính thống gợi lên cho ông những suy nghĩ gì?

NVT: Tôi nghĩ chúng ta chỉ xem những bảng xếp hạng như thế để tham khảo thôi, chứ không nên dựa vào đó mà tự mãn. Cũng giống như bảng xếp hạng giáo dục trung học PISA mà trong đó Việt Nam đứng khá cao, cao hơn cả Úc và Mĩ, nhưng chúng ta biết rằng những cách làm như thế còn rất nhiều hạn chế, không phản ảnh thực lực của chúng ta. Trong thực tế, Việt Nam có tình trạng “tị nạn giáo dục” thì những bảng xếp hạng như thế rất vô ý nghĩa. Chỉ có chúng ta biết chúng ta mạnh chỗ nào và yếu chỗ nào, chứ chẳng có bảng xếp hạng nào định lượng được. 

Hiện nay, nếu tính trên số công trình khoa học công bố quốc tế, Việt Nam chúng ta đứng hạng 68 (trên 236 nước), thấp hơn Thái Lan (hạng 42), Mã Lai (43), nam Dương (64), và dĩ nhiên thấp hơn Singapore (hạng 32). Tất cả các chỉ số về kinh tế tri thức, năng lực sáng tạo, giáo dục. Việt Nam chúng ta đều thấp hơn các nước vừa kể. Chỉ có một chỉ số mà chúng ta tương đương họ là công nghệ viễn thông - thông tin, nhưng khi nhìn kĩ vào chỉ số này thì họ tính dựa trên số người sử dụng điện thoại di động, và số điện thoại di động do Samsung xuất khẩu. Nói như thế để thấy là chúng ta không nên tin vào những bảng xếp hạng "tổng hợp" như thế nếu không xem xét cách người ta làm.

PV: Năng suất lao động thấp, khả năng áp dụng công nghệ kém, bản thân các doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ kém. Viễn cảnh của nền kinh tế Việt Nam nếu cứ ngày càng xa rời chuẩn mức của thế giới sẽ như thế nào, thưa ông? Ông đã nhìn thấy tín hiệu gì từ phía các nhà quản lý để giải quyết vấn đề này hay chưa? Đứng ở góc độ chuyên gia, ông có tư vấn gì không?

NVT: Vâng, bức tranh chung thì rất ảm đạm như phóng viên vừa mô tả. Đó là chưa kể đến nợ công ngày càng chồng chất, và chúng ta tiếp tục đi vay. Nguồn tài nguyên dần dần cạn kiệt. Chúng ta đang rơi vào cái bẫy "thu nhập trung bình" mà các chuyên gia đã cảnh báo trước đây. Chúng ta phải nghiêm túc tự vấn: Chúng ta sẽ để lại di sản gì cho con cháu mai sau, hay chỉ là một đống nợ. 

Tôi không ở trong nước nên khó có tư cách để trả lời câu hỏi của phóng viên. Nhưng tôi theo dõi qua báo chí thì thấy sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là do sự xoay sở và năng động của doanh nghiệp. Hiện nay, theo tôi biết thì Chính phủ duy trì các tập đoàn kinh tế Nhà nước là chủ đạo, nhưng tôi nghĩ như nhiều chuyên gia khác là nên chấp nhận và hỗ trợ tăng cường vai trò của các tập đoàn kinh tế ngoài Nhà nước. Ngoài ra, phải "giải phóng" con người, hiểu theo nghĩa tạo điều kiện để tiếng nói bảo vệ quyền lợi cho người công nhân thiết thực và hiệu quả hơn.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Năng suất khoa học của giáo sư Hàn Quốc

Trong các cường quốc khoa học mới nổi lên, tôi nghĩ phải kể đến Hàn Quốc (HQ). Ngày xưa chúng tôi gọi là “Đại Hàn” (giống như Việt Nam mình từng là “Đại Việt”). Hôm nọ, tôi đếm thử số bài báo khoa học của Đại học Quốc gia Seoul (SNU, đại học số 1 của HQ) thì thấy đã hơn số bài báo của Đại học New South Wales (UNSW). Đáng phục! Tuy nhiên, về chất lượng khoa học thì SNU vẫn còn kém nhiều so với các đại học phương Tây. 


Hôm nay đọc một phân tích về năng suất khoa học của các giáo sư thuộc Trường Sinh học (School of Biological Sciences - SBS) của SNU thấy có nhiều số liệu thú vị. Trường này có 3 bộ môn chính là sinh học, sinh học phân tử, và vi sinh học. Trường có 39 giáo sư và giảng viên (gọi chung là faculties), vấn đề đặt ra là năng suất của những faculties này ra sao. Để trả lời câu hỏi đó, họ phân tích số bài báo và trích dẫn trong thời gian 2004 đến 2009. Sau đây là vài kết quả chính: 

• Tổng số bài báo trong thời gian 2004-2009 là 640 bài. Trong số này, 541 bài (85%) là công bố trên các tập san quốc tế; phần còn lại là nội địa nhưng có bình duyệt (peer review). Tính trung bình, mỗi giáo sư/giảng viên công bố 16 bài trong thời gian 5 năm. 

• Những công trình nghiên cứu của họ phần lớn tập trung vào sinh học phân tử. Thật vậy, trong số 640 bài, có đến 45% thuộc lĩnh vực sinh học phân tử. Phần còn lại là tế bào học (23%), vi sinh (16%), công nghệ sinh học (6%), và di truyền học (5%).

• Phần lớn (trên 75%) những bài báo được công bố trên các tập san có IF < 4, tức dưới trung bình. Nhưng cũng có những bài được công bố trên các tập san danh tiếng như 9 bài trên Cell (IF 32.4), 14 bài trên PNAS (IF 9.77), và 41 bài trên JBC (IF 5.3). Một số ít được công bố trên các tập san danh giá khác như Nature Medicine, Nature, Science, EMBO, v.v. 

• Khoảng 26% bài báo khoa học là có hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Những nước họ hợp tác nhiều nhất là Mĩ (chiếm 67% các bài báo có hợp tác), Nhật (15%), Đức (8%), Canada (8%), và Anh (5%).

• Về chất lượng có thể đánh giá qua chỉ số trích dẫn. Trong số 614 bài, có 521 bài (tức 81%) được trích dẫn. Tổng số lần trích dẫn là 9204. Tính trung bình, mỗi bài được trích dẫn 14.4 lần. Những bài có hợp tác quốc tế là được trích dẫn nhiều nhất so với những bài của tác giả thuần nội địa. 

• Qua những phân tích trên, chúng ta thấy được những ngôi sao sinh học của SNU. Đó là VN Kim, SH Baek, J Chun, JB Kim. Những người này có công trình được trích dẫn trên 100 lần. Đặc biệt là VN Kim, chỉ 28 bài báo mà có đến 2376 trích dẫn! Người có năng suất cao nhất là J Chun, một mình ông này công bố 62 bài, trung bình >10 bài một năm! Các bạn nghiên cứu sinh cần chú ý đến những sao này để đầu quân! 

Tìm hiểu thêm thì thấy VN Kim là nữ, dân học Oxford về, với H index là 36. Nữ mà giỏi thế!http://www.narrykim.org/en/principal_investigator. 

Những con số trên đây cho thấy ngành sinh học của SNU đã có một bước tiến ngoạn mục. Họ có những hướng nghiên cứu chuyên sâu và bắt kịp phương Tây. Năng suất khoa học của họ không hề kém, nếu không muốn nói là có phần trội hơn, bên Úc. Họ cũng có những ngôi sao rất đáng nể phục, và đã có nội lực chẳng thua kém bất cứ đại học nào trên thế giới. 

Ở VN chúng ta, năng suất khoa học trong ngành sinh học còn rất thấp. Thống kê ISI cho thấy trong 10 năm 1995-2005, tổng số bài báo về sinh học chỉ xấp xỉ 600 bài. Gần 90% những bài này là do cộng tác với nước ngoài, và tác giả nước ngoài là chủ đề tài. Nói cách khác, số bài báo sinh học 10 năm của VN chưa bằng số bài báo trong 5 năm của một đại học như SNU. Nhưng quan trọng hơn là nội lực về nghiên cứu sinh học của VN còn quá thấp. Anh bạn tôi ở Sài Gòn nói bây giờ rất khó thu hút sinh viên theo học biology, anh ấy còn dùng chữ “sắp tuyệt chủng”. So sánh thêm chỉ thêm buồn, nhưng con số đó buộc chúng ta phải hỏi nên ưu tiên đầu tư cho ngành khoa học nào? Nếu cứ mãi mê chạy theo tính toán thì sẽ có ngày VN hối hận và lúc đó thì đã quá muộn.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡ và Căng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác