Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Bàn về tác giả bài báo khoa học: tác giả ma, tác giả danh dự

Xin giới thiệu một bài viết của tôi trên sgtt.vn về tình trạng lạm dụng đứng tên tác giả bài báo khoa học. Bài này gồm 2 phần: phần 1 bàn về tiêu chuẩn, và phần 2 về vị trí. Đây là bản gốc của phần 1, còn bản đã biên tập thì ở đây:



Một công trình nghiên cứu khoa học thường được thể hiện qua bài báo khoa học. Bài báo khoa học có 2 phần mà người đọc chú ý nhất: nội dung và tác giả. Nội dung thường phản ảnh những phát hiện mới, đáng chú ý, nói lên tầm quan trọng của công trình nghiên cứu mà tác giả muốn chia sẻ cùng cộng đồng khoa học. Nhưng phần thứ hai cũng không kém phần quan trọng là tên của tác giả bài báo. Đứng tên tác giả bài báo khoa học không chỉ có nghĩa là chịu trách nhiệm về nội dung và có thẩm quyền về bài báo, mà còn là một hình thức ghi nhận công trạng.

Mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu và công trạng có tác động đến sự nghiệp của một cá nhân tác giả. Số lượng bài báo mà một cá nhân đứng tên tác giả thường được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xét duyệt đề bạt các chức danh khoa bảng (như giáo sư, phó giáo sư). Ở nhiều trường đại học trên thế giới, nghiên cứu sinh cần phải đứng tên tác giả đầu của một số công trình nghiên cứu mới được bảo vệ luận án tiến sĩ. Đối với các cơ quan tài trợ như Nafosted của Bộ Khoa học và Công nghệ, bài báo khoa học là một trong những tiêu chí để “nghiệm thu” công trình nghiên cứu. Ở cấp quốc gia, số bài báo khoa học (mà công dân của quốc gia đó đứng tên tác giả) được xem là một thước đo quan trọng để đánh giá trình độ khoa học kĩ thuật của quốc gia. Do đó, việc phân định công trạng qua đứng tên tác giả bài báo khoa học rất có ý nghĩa đến cá nhân nhà khoa học và uy danh quốc gia.

Từ tác giả danh dự, tác giả ma

Vấn đề phân định công trạng rất đơn giản nếu bài báo chỉ có một tác giả duy nhất, nhưng trở nên phức tạp khi bài báo có nhiều tác giả. Từ thế kỉ 17 đến thập niên 1920, qui ước của cộng đồng khoa học là mỗi bài báo chỉ có 1 tác giả. Do đó, việc phân định công trạng chưa được đặt ra. Đến thập niên 1950 thì qui ước 1 tác giả bị chất vấn, và đến thập niên 1980 thì cộng đồng khoa học thay đổi theo hướng dân chủ hơn. Ngày nay, mở một tập san khoa học lớn (như Nature, Science, Cell), chúng ta thấy có rất nhiều bài báo với nhiều tác giả, có bài số tác giả lên đến hàng trăm người.  Theo thống kê của Nature, tính trung bình, số tác giả của mỗi bài báo ngày nay tăng gấp 4 lần số tác giả vào thập niên 1950.

Ngày nay, nghiên cứu khoa học thường là nỗ lực của một tập thể, vì có sự đóng góp của nhiều chuyên gia từ nhiều chuyên ngành khác nhau. Do đó, hiện tượng nhiều tác giả không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng việc phân định công trạng không dễ dàng chút nào khi mà mọi người đều có thể nói “không có tôi thì công trình này sẽ không thành công.” Người viết bài này từng chứng kiến những tranh cãi như thế rất nhiều lần, và mỗi lần đều dẫn đến những kết cục buồn, vì sứt mẻ tình bạn và quan hệ đồng nghiệp.

Câu hỏi đặt ra là ai xứng đáng đứng tên tác giả? Năm 1985, Ủy ban tổng biên tập các tập san y học (International Committee of Medical Journal Editors – ICMJE, còn gọi là Vancouver Group) đề ra 3 tiêu chuẩn cho một tác giả bài báo khoa học.  Năm 2000, 3 tiêu chuẩn này được hiệu chỉnh lại, và được giới khoa học quốc tế công nhận là những tiêu chuẩn vàng để qui quyền tác giả.  Theo định nghĩa của ICMJE, một thành viên nghiên cứu có tư cách đứng tên tác giả phải hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn sau đây:

·            Một là đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành ý tưởng và phương pháp nghiên cứu, hay thu thập dữ kiện, hay phân tích và diễn dịch dữ kiện; 
·            Hai là đã soạn thảo bài báo hay kiểm tra nội dung tri thức của bài báo một cách nghiêm túc; và
·            Ba là phê chuẩn bản thảo sau cùng để gửi cho tập san.

Định nghĩa của ICMJE nói cụ thể là những người chỉ có công tìm tài trợ, chỉ có công thu thập dữ kiện, hay chỉ có công lãnh đạo một nhóm nghiên cứu không có quyền đứng tên tác giả nếu như không hội đủ ba tiêu chuẩn trên đây. 

Trên nguyên tắc là như thế, nhưng trong thực tế thì không phải ai cũng dựa theo những tiêu chuẩn vàng trên. Có thể nói rằng có nhiều bài báo khoa học mà trong đó một số tác giả chẳng có đóng góp gì đáng kể, thậm chí chẳng biết nội dung bài báo nói về cái gì, có người còn chưa thấy bài báo ra sao. Trong thời gian gần đây, với áp lực xin tiền tài trợ cho nghiên cứu và xin đề bạt, xuất hiện hiện tượng tác giả danh dự, tác giả ma (ghost authors), và … cướp công trong khoa học.

Ở Việt Nam có không ít tác giả đứng tên tác giả trong bài báo khoa học nhưng họ không đáp ứng 3 tiêu chuẩn vàng trên. Họ là người không dính dáng gì đến việc khai sinh ra ý tưởng bài báo, và không có tham gia vào việc soạn thảo bài báo. Nhưng họ thường là giám đốc một trung tâm, hay đứng đầu một nhóm nghiên cứu lớn. Là giám đốc, họ có thể gây áp lực đến nhà khoa học dưới quyền hay đối tác nước ngoài ghi tên họ vào danh sách tác giả. Đối với nghiên cứu sinh ở một vị thế “bất lợi” nên đành phải làm theo yêu cầu. Đối với đối tác nước ngoài vì lí do ngoại giao và làm việc lâu dài, nên họ sẵn sàng đề tên những sếp vào danh sách tác giả. Thuật ngữ trong khoa học gọi những “tác giả” loại này là tác giả danh dự (honorary authors), tác giả mời (guest author), tác giả quà (gift author). Đối với tác giả chính, có tác giả danh dự hay tác giả quà chẳng hại gì, mà còn thắt chặt thêm tình đồng nghiệp trong tương lai, khi mà lúc “có qua có lại” trở thành một lợi thế cho sự nghiệp khoa bảng.  Theo một phân tích công bố trên tập san JAMA vào năm 1998, có gần 20% các bài báo có những “tác giả danh dự”, tức rất phổ biến!

“Tác giả ma” là một thuật ngữ tương đối mới trên thế giới, nhưng nó lại không hề mới trong giới nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Theo cách hiểu thông thường, tác giả ma là người soạn thảo bài báo khoa học nhưng lại không có tên trong danh sách tác giả (và người đứng tên tác giả thì không hề viết bài báo!) Hiện tượng tác giả ma chỉ xuất hiện trên các tập san khoa học khoảng 20 năm qua, và “thủ phạm” là các công ti dược. Các công ti dược làm nghiên cứu, rồi mướn các chuyên gia khác viết bài báo, và mời các giáo sư nổi tiếng [không liên quan gì đến công trình nghiên cứu] đứng tên tác giả. Khoảng 11% các bài báo y khoa có hiện tượng tác giả ma. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hiện tượng tác giả ma khá phổ biến từ lâu và xuất hiện dưới nhiều dạng. Có những người chuyên viết thuê luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, có người chuyên viết thuê bài báo khoa học, có những người chuyên soạn bài nói chuyện cho các giáo sư, v.v. Do đó, hiện tượng tác giả ma ở Việt Nam có phần “phong phú” hơn so với thế giới khoa học.

(Phần 2 sẽ đăng ngày mai)



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Giải thưởng Sách Hay 2013

Hôm nay tôi có một tin vui: Hội đồng Giải thưởng Sách Hay (GTSH – www.sachhay.org) thông báo rằng cuốn “Đi vào nghiên cứu khoa học” của tôi đã được tuyển chọn trao giải Sách Hay 2013. Dĩ nhiên, đó là một sự khích lệ đối với tôi, và tôi muốn nhân dịp này cám ơn Ban tổ chức và Hội đồng GTSH đã quan tâm đến khoa học và chọn cuốn sách để trao giải thưởng. 



Cuốn sách này, như tên gọi, có mục tiêu đơn giản là giới thiệu những ý tưởng và “luật chơi” trong khoa học. Sách có 2 phần: phần đầu bàn về câu hỏi nghiên cứu (kể cả cách đánh giá một câu hỏi), văn hoá khoa học, và đạo đức khoa học; phần hai bàn về việc công bố và trình bày báo cáo khoa học. Bạn đọc sẽ biết thế nào là một bài báo khoa học, chỉ số H, chỉ số ảnh hưởng (impact factor), v.v. là gì. Bạn đọc cũng sẽ có những “thông tin độc” về những lí do bài báo khoa học bị từ chối. Với những chủ đề đó, cuốn sách này tôi viết không chỉ cho sinh viên, nghiên cứu sinh, mà còn nhắm đến những người ngồi trong các hội đồng đánh giá nghiên cứu khoa học. 

Tôi nghĩ chỉ khi nào nhà khoa học và những người ngồi trong hội đồng nói cùng một ngôn ngữ, cùng hiểu một khái niệm, cùng có văn hoá thì mới có thể đối thoại công bằng được. Thử tưởng tượng một hội đồng khoa học mà những người ngồi trong đó chưa từng biết inpact factor là gì và cách diễn giải ra sao thì làm sao có thể đánh giá chính xác thành tích của một nhà khoa học có công trình công bố trên các tập san quốc tế. Do đó, tôi cố gắng mô tả những chỉ số này một cách đơn giản để ai cũng có thể hiểu được. Tôi cũng đã tích cực giới thiệu cuốn sách đến các bạn và đồng nghiệp trong cách workshop do tôi thực hiện trong thời gian qua. Rất nhiều bạn đọc nói rằng họ thích cuốn sách vì qua đó họ đã rõ hơn về những điều mà cộng đồng khoa học hay nhắc đến. Ngay cả giới phóng viên cũng có người tìm đọc và nói rằng họ hiểu về khoa học và nhà khoa học hơn qua những thông tin trong sách. Do đó, hi vọng về lâu dài, qua cuốn sách cộng đồng khoa học sẽ hiểu nhau hơn và có cách thẩm định khách quan hơn. 

Cuốn sách khởi phát từ Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Tôi là một cộng tác viên của TBKTSG, và toà soạn thường hay giúp in sách cho cộng tác viên. Hình thức giúp đỡ là biên tập và liên lạc chọn nhà xuất bản. Do đó, năm 2011, khi TBKTSG đề nghị tôi in 2 cuốn về giáo dục và khoa học thì tôi vui vẻ đồng ý ngay. Cuốn về giáo dục (“Giáo dục đại học nhìn dưới góc độ hội nhập”) và cuốn này (“Đi vào nghiên cứu khoa học”) gần như được in trong cùng một lúc. Kể từ khi in năm 2011, cả hai cuốn đều được tái bản 2 lần. Sự chào đón của các bạn đọc làm tôi … cảm động. Thời buổi sách dạy làm đẹp, sách dạy tiếng Anh, sách dạy kĩ năng sống đang lên ngôi mà vẫn còn bạn đọc quan tâm đến khoa học và giáo dục làm tôi cảm động và có phần phấn khích. Cuốn về giáo dục như tôi có lần thông báo là được Ban tuyên giáo trao giải khuyến khích với 3 triệu đồng thưởng vào năm ngoái. 

Năm nay thì đến giải Sách Hay 2013. Tôi nghĩ trong giới có học trong và ngoài nước thì ai cũng biết đến Giải thưởng Sách Hay. Đây là giải thưởng hay nói đúng hơn là một sáng kiến do một nhóm nhân sĩ độc lập chủ trì. Đó là Nhà văn Nguyên Ngọc, Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, Ts Chu Hảo, Ts Quách Thu Nguyệt, ông Giản Tư Trung thuộc viện IRED. Đây là giải thưởng mang tính “dân lập”, hiểu theo nghĩa những người chủ trương không có dính dáng gì đến chính quyền. Chủ trương của nhóm là “mong muốn làm cái gì đó cho chuyện khai minh thông qua việc quảng bá sách hay và lan tỏa tri thức từ những cuốn sách hay này trong cộng đồng xã hội; đồng thời, mong rằng giải này cũng là một tác nhân (cùng với nhiều tác nhân khác) trong việc hình thành xã hội dân sự ở xứ mình, nhất là trong lĩnh vực văn hóa, khoa học và giáo dục.” Giải thưởng Sách Hay không có thưởng tiền. Nhưng tôi nghĩ những ai viết sách thì có bao giờ nghĩ đến chuyện tiền bạc. 

Năm nay, tôi thấy Hội đồng trao giải cho vài cuốn sách tôi thích và đã từng có thời giới thiệu trên trang nhà cũ. Đó là cuốn “Biển và chim bói cá” của Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, cuốn “Thần, Người và Đất Việt” của nhà viết sử Tạ Chí Đại Trường, và cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” (bản dịch) mà tôi đã giới thiệu mấy tuần trước đây. Cả hai người đều là tác giả "favorite" của tôi. Trang web cũ của tôi còn dành hẳn một trang để giới thiệu Bùi Ngọc Tấn, người mà tôi nghĩ là Dostoievsky của Việt Nam. Đặc biệt tôi rất thích cuốn “Những giọt mực” của Lê Tất Điều, vì tôi đã đọc từ trước 1975 và đây là một trong những tác phẩm hay của một cây bút sắc sảo và tinh tế ở miền Nam thời đó. Sau này ra hải ngoại ông cũng sáng tác nhưng không nhiều. Hoá ra, những gì Hội đồng tuyển chọn cũng hợp gu cá nhân tôi.  Tôi nghĩ trong giới trẻ ngày nay ít ai biết Nhà văn Lê Tất Điều, và đó là một thiếu sót; các bạn nên tìm đọc sáng tác của ông vì sẽ học rất nhiều điều trong đó. 

Nhân dịp này, tôi cám ơn anh Nguyễn Vạn Phú (Thời báo Kinh tế Sài Gòn) đã gợi ý in cuốn sách, và tờ báo đã từng đăng tải nhiều bài viết của tôi về giáo dục và khoa học trong thời gian trên dưới 10 năm qua. Tôi cũng cám ơn anh Nguyễn Công Thắng, người đã bỏ ra nhiều thời để rà soát, chọn lọc, và biên tập cuốn sách. Bản thảo đầu của cuốn sách dài trên 500 trang, nhưng nhà xuất bản nghĩ rằng sách dài khó bán, nên giảm xuống còn 300 trang. Do đó, biên tập cuốn sách là một việc làm “gian truân”, nhất là với cách viết của tôi. Không có anh Nguyễn Công Thắng, cuốn sách đã không đến tay bạn đọc sớm được. Tôi cũng cám ơn Nhà xuất bản Tổng Hợp đã in và phát hành 4 cuốn sách của tôi trong vòng 2 năm qua. 

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Năng suất khoa học của giáo sư Hàn Quốc

Trong các cường quốc khoa học mới nổi lên, tôi nghĩ phải kể đến Hàn Quốc (HQ). Ngày xưa chúng tôi gọi là “Đại Hàn” (giống như Việt Nam mình từng là “Đại Việt”). Hôm nọ, tôi đếm thử số bài báo khoa học của Đại học Quốc gia Seoul (SNU, đại học số 1 của HQ) thì thấy đã hơn số bài báo của Đại học New South Wales (UNSW). Đáng phục! Tuy nhiên, về chất lượng khoa học thì SNU vẫn còn kém nhiều so với các đại học phương Tây. 


Hôm nay đọc một phân tích về năng suất khoa học của các giáo sư thuộc Trường Sinh học (School of Biological Sciences - SBS) của SNU thấy có nhiều số liệu thú vị. Trường này có 3 bộ môn chính là sinh học, sinh học phân tử, và vi sinh học. Trường có 39 giáo sư và giảng viên (gọi chung là faculties), vấn đề đặt ra là năng suất của những faculties này ra sao. Để trả lời câu hỏi đó, họ phân tích số bài báo và trích dẫn trong thời gian 2004 đến 2009. Sau đây là vài kết quả chính: 

• Tổng số bài báo trong thời gian 2004-2009 là 640 bài. Trong số này, 541 bài (85%) là công bố trên các tập san quốc tế; phần còn lại là nội địa nhưng có bình duyệt (peer review). Tính trung bình, mỗi giáo sư/giảng viên công bố 16 bài trong thời gian 5 năm. 

• Những công trình nghiên cứu của họ phần lớn tập trung vào sinh học phân tử. Thật vậy, trong số 640 bài, có đến 45% thuộc lĩnh vực sinh học phân tử. Phần còn lại là tế bào học (23%), vi sinh (16%), công nghệ sinh học (6%), và di truyền học (5%).

• Phần lớn (trên 75%) những bài báo được công bố trên các tập san có IF < 4, tức dưới trung bình. Nhưng cũng có những bài được công bố trên các tập san danh tiếng như 9 bài trên Cell (IF 32.4), 14 bài trên PNAS (IF 9.77), và 41 bài trên JBC (IF 5.3). Một số ít được công bố trên các tập san danh giá khác như Nature Medicine, Nature, Science, EMBO, v.v. 

• Khoảng 26% bài báo khoa học là có hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Những nước họ hợp tác nhiều nhất là Mĩ (chiếm 67% các bài báo có hợp tác), Nhật (15%), Đức (8%), Canada (8%), và Anh (5%).

• Về chất lượng có thể đánh giá qua chỉ số trích dẫn. Trong số 614 bài, có 521 bài (tức 81%) được trích dẫn. Tổng số lần trích dẫn là 9204. Tính trung bình, mỗi bài được trích dẫn 14.4 lần. Những bài có hợp tác quốc tế là được trích dẫn nhiều nhất so với những bài của tác giả thuần nội địa. 

• Qua những phân tích trên, chúng ta thấy được những ngôi sao sinh học của SNU. Đó là VN Kim, SH Baek, J Chun, JB Kim. Những người này có công trình được trích dẫn trên 100 lần. Đặc biệt là VN Kim, chỉ 28 bài báo mà có đến 2376 trích dẫn! Người có năng suất cao nhất là J Chun, một mình ông này công bố 62 bài, trung bình >10 bài một năm! Các bạn nghiên cứu sinh cần chú ý đến những sao này để đầu quân! 

Tìm hiểu thêm thì thấy VN Kim là nữ, dân học Oxford về, với H index là 36. Nữ mà giỏi thế!http://www.narrykim.org/en/principal_investigator

Những con số trên đây cho thấy ngành sinh học của SNU đã có một bước tiến ngoạn mục. Họ có những hướng nghiên cứu chuyên sâu và bắt kịp phương Tây. Năng suất khoa học của họ không hề kém, nếu không muốn nói là có phần trội hơn, bên Úc. Họ cũng có những ngôi sao rất đáng nể phục, và đã có nội lực chẳng thua kém bất cứ đại học nào trên thế giới. 

Ở VN chúng ta, năng suất khoa học trong ngành sinh học còn rất thấp. Thống kê ISI cho thấy trong 10 năm 1995-2005, tổng số bài báo về sinh học chỉ xấp xỉ 600 bài. Gần 90% những bài này là do cộng tác với nước ngoài, và tác giả nước ngoài là chủ đề tài. Nói cách khác, số bài báo sinh học 10 năm của VN chưa bằng số bài báo trong 5 năm của một đại học như SNU. Nhưng quan trọng hơn là nội lực về nghiên cứu sinh học của VN còn quá thấp. Anh bạn tôi ở Sài Gòn nói bây giờ rất khó thu hút sinh viên theo học biology, anh ấy còn dùng chữ “sắp tuyệt chủng”. So sánh thêm chỉ thêm buồn, nhưng con số đó buộc chúng ta phải hỏi nên ưu tiên đầu tư cho ngành khoa học nào? Nếu cứ mãi mê chạy theo tính toán thì sẽ có ngày VN hối hận và lúc đó thì đã quá muộn.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Học bổng về thống kê học và public health

Tôi mới nhận được thư của hai người bạn nhờ thông báo trên trang blog về học bổng cấp tiến sĩ. Học bổng thứ nhất dành cho các ứng viên muốn theo học tiến sĩ về thống kê sinh học (biostatistics) với nhóm nghiên cứu Oxford University Clinical Research Unit (OUCR) ở VN. Theo tôi, đây là nhóm duy nhất ở VN có những chuyên gia thống kê học thứ thiệt và có “track record” làm những nghiên cứu có giá trị và tầm cỡ quốc tế. Vì thế, được theo học với họ là một cơ hội hiếm có. Các bạn có thể xem thông báo dưới đây.

Học bổng thứ hai là từ ĐH Quốc gia Hàn Quốc. Hiện nay, họ thông báo miệng với tôi là có 2 học bổng cấp tiến sĩ, đặc biệt dành cho sinh viên Việt Nam. Các bạn nào quan tâm có thể liên lạc tôi để biết thêm chi tiết. 

NVT   

Học bổng từ nhóm Oxford 

I would like to inform you that we are currently advertising for a PhD position in statistics at the Oxford University Clinical Research Unit in Ho Chi Minh City, Vietnam, on the topic of “Statistical methods for adaptive clinical trials in tropical diseases”. 

I am attaching the proposal for your information. Further details about our research unit, our international PhD program and the application process can be found on our website (www.oucru.org,  especially in the menu  “Careers and Training”). 

This is a fully funded PhD position based in Ho Chi Minh City which includes a salary, all fees for registration at an international university, and the possibility for international training and conference attendance. 

I think it is an excellent opportunity for an ambitious young  researcher in statistics with an interest in medical applications. If you know  potential candidates, I would very much appreciate if you could forward this email to them and encourage them to apply. The deadline for application is 7th October 2013 (Jan 2014 registration). – Please feel free to contact me if there are any questions. 

Thank you so much for your help and best regards,

Marcel Wolbers PhD
Biostatistician
Email: mwolbers@oucru.org
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Tự vấn, tự trọng, tự do, tự đổi mới

Xin giới thiệu các bạn một cuộc trò chuyện với phóng viên trên Sài Gòn Tiếp Thị nhân ngày 2/9/1945. Bài phỏng vấn này được phóng viên biến thành một bài viết dưới tựa đề “Tự vấn, tự trọng, tự do, tự đổi mới”. Vì không đủ “đất” nên một số đoạn phải cắt bỏ trên báo. Thời đại internet có cái hay là độc giả có thể đọc nguyên bản (dưới đây) bên cạnh bản in, và có thể rút ra vài nhận xét.
http://sgtt.vn/goc-nhin/182783/tu-van-tu-trong-tu-do-tu-doi-moi.html
NVT

SGTT: Thưa GS, cảm xúc của GS thế nào khi nghĩ về ngày độc lập 2/9 của đất nước?

NVT: Tôi nhìn ngày 2/9/1945 như là một ngày Việt Nam giành quyền độc lập, không còn lệ thuộc ngoại bang. Có lẽ ấn tượng nhất với tôi là bản tuyên ngôn độc lập do cụ Hồ Chí Minh đọc và trích từ câu đầu trong bản tuyên ngôn độc lập của Mĩ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Đó là những câu phát ngôn rất đẹp và lí tưởng. Do đó, có thể nói rằng ngày 2/9 mở đầu cho một lí tưởng nhân văn và cao đẹp cho Việt Nam. Còn những gì xảy ra sau đó thì cần phải bàn thêm.

SGTT: Ngày Độc lập có gắn với kỷ niệm nào của Giáo sư không?

NVT: Tôi sinh sau ngày 2/9/1945 và ở trong Nam nên không có kỉ niệm nào với ngày đó cả. Tuy nhiên, Ba tôi lúc sinh tiền thì nhắc đến ngày này như là một bước ngoặc trong đời.

SGTT: Chúng ta có độc lập gần 70 năm qua, nhưng về mặt phát triển chúng ta vẫn lệ thuộc nhiều thứ của nước ngoài. (Đơn cử, trong lĩnh vực y tế, mỗi năm dân ta phải mất rất nhiều tiền để đi các nước chữa bệnh). GS chia sẻ gì về câu chuyện này?

NVT: Thật ra, hầu như bất cứ lĩnh vực nào liên quan đến khoa học, công nghệ, kĩ thuật, chúng ta đều phụ thuộc vào nước ngoài. Nhìn chung, nhiều kĩ nghệ ở Việt Nam chủ yếu là gia công, chứ không phải thực sự sản xuất và cũng không có nghiên cứu khoa học. Chúng ta còn lệ thuộc nước ngoài về khoa học. Khoảng 80% các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là do hợp tác với hay qua hỗ trợ từ nước ngoài.

Tôi nghĩ rằng trình độ của chúng ta (người Việt) chưa theo kịp với những vấn đề mà phát triển kinh tế - xã hội đặt ra. Điểm xuất phát của chúng ta là một nền văn minh và văn hóa nông nghiệp, và khi trong quá trình hội nhập thế giới được định hình bởi nền văn minh công nghiệp, thì nảy sinh rất nhiều vấn đề. Có nhiều sự chênh lệch giữa nhu cầu phát triển đặt ra và khả năng đáp ứng của nội lực Việt Nam. Điều này có thể giải thích tại sao các công trình xây dựng, công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam không đạt chất lượng cao.

Ngoài ra, sự phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam còn thiếu tính đồng bộ và thiếu tính hệ thống. Đây đó chúng ta có những chuyên gia có thực tài, nhưng nhìn chung họ chỉ là những cá nhân đơn lẻ, không đủ để định hình một nền khoa học. Ví dụ như Việt Nam có những bác sĩ phẫu thuật không thua kém gì so với Singapore, nhưng chúng ta không có một hệ thống hỗ trợ hậu phẫu để lấy được niềm tin tưởng của bệnh nhân. Có thể chúng ta chỉ giỏi về kĩ thuật, mà kĩ thuật thì chỉ là một khâu trong nhiều khâu quan trọng. Chính vì thế mà một số bệnh nhân chưa cảm thấy an tâm và tin tưởng vào hệ thống y tế của Việt Nam.

SGTT: Khi giành độc lập, VN là một khối thống nhất, triệu con tim một ý chí quật cường? GS có thể giải mã gì về hiện tượng này dưới con mắt của một nhà nghiên cứu?

NVT: Tôi nhớ đến câu “Mùa thu rồi ngày 23 / ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Đó lời hiệu triệu chống ngoại xâm. Do đó, tôi nghĩ bởi đơn giản là lúc đó ai cũng muốn đánh đuổi ngoại xâm để có được độc lập, tự do, và bình đẳng. Người Việt Nam có thể bất đồng với nhau về nhiều vấn đề, nhưng rất đồng lòng trong việc đánh đuổi ngoại xâm. Ngày nay cũng thế, khi có đe dọa hay nguy cơ từ ngoại xâm thì người dân đồng loạt đứng lên.

Nhưng lịch sử cũng chỉ ra rằng trong thời bình người Việt Nam không đoàn kết như trong thời chiến tranh chống ngoại xâm. Đất nước đã thống nhất gần 40 năm, nhưng lòng người hình như chưa thống nhất. Bất công xã hội ngày càng nhân rộng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng hơn. Người Việt trong và ngoài nước chưa thật sự đồng lòng. Tất cả những yếu tố đó chỉ làm suy yếu cộng đồng dân tộc, và làm cho Việt Nam chưa phát triển đúng với tiềm năng của dân tộc.

SGTT: Theo GS, vì sao một dân tộc từng ngẩn cao đầu trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước, nhưng lại là một dân tộc quẩn quanh với mệt nhoài ở những chặng hoà bình tìm kế bứt phá vươn lên?


NVT: Trong lịch sử cận đại, chưa bao giờ nước ta có một thời gian hoà bình lâu dài như hiện nay. Thế mà cho đến nay, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia nghèo, có thời gian nằm trong nhóm các nước nghèo nhất thế giới. Câu hỏi đặt ra là tại sao, và đã có nhiều câu trả lời cũng như cách tiếp cận câu hỏi đó. Tôi nghĩ lí do gần mà chúng ta có thể nhận ra được là chúng ta đã dành quá nhiều sức lực và tài nguyên cho chiến tranh. Đối với các nước lớn, chiến tranh là một cuộc chơi, hay thậm chí là một thương vụ; nếu không có lợi thì họ rút lui, họ không mấy quan tâm đến thắng hay thua theo nghĩa kinh điển. Nhưng đối với nước nghèo như Việt Nam thì khi chiến tranh xảy ra là dốc toàn lực toàn tâm để giành thắng lợi. Trong cuộc chiến vừa qua, có trên 50 ngàn quân nhân Mĩ tử vong, nhưng Việt Nam thì trên 2 triệu người tử vong. Sau hơn 20 năm chiến tranh thì xã hội có dấu hiệu mệt mỏi cũng là điều không khó hiểu.

Nhưng tại sao có những nước, như Hàn Quốc và Nhật, họ lại vươn lên rất nhanh sau chiến tranh, còn Việt Nam thì vẫn còn nghèo. Có ba giả thuyết chính được đề ra để giải thích sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới: địa lí / khí hậu, văn hóa, và thể chế. Có học giả (như Montesquieu chẳng hạn) cho rằng ở những nước nhiệt đới người dân thiếu óc tò mò, hay bị mệt mỏi, dễ mắc bệnh, và năng suất lao động thấp, nên mức độ phát triển không bằng các nước ôn đới. Giả thuyết thứ hai cho rằng yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đến phát triển, và đã có khá nhiều học giả cho rằng một số nét về văn hoá Việt Nam là những rào cản cho phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá. Nhưng một giả thuyết mới nhất cho rằng một thể chế thiếu dung hợp là một yếu tố làm cho đất nước nghèo yếu. Một thể thiếu dung hợp như Phi Luật Tân, trong đó các nhóm lợi ích và đại gia chiếm đoạt tài nguyên quốc gia thì đất nước không thể nào giàu được. Có thể nói rằng cả ba giả thuyết trên đây đều có thể giải thích tại sao Việt Nam nghèo. Chúng ta không thay đổi được địa lí, nhưng chúng ta có thể thay đổi văn hoá và tạo ra một thể chế dung hợp hơn nữa, một thể chế mà trong đó mọi thành viên có cơ hội đóng góp chứ không phải chỉ vài nhóm lợi ích chiếm đoạt tài nguyên và lũng đoạn quốc gia.

SGTT: Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay, là gì, thưa GS?

NVT: Tôi nghĩ mối đe dọa lớn nhất đến phát triển đất nước hiện nay là môi sinh và đạo đức xã hội. Nước ta là nước nhỏ (về diện tích), mật độ dân số khá cao, và môi trường sống đang xuống cấp nghiêm trọng. Sự phá hủy môi sinh ở Việt Nam rất ư là kinh khủng, và nếu không ngăn chận hay khắc phục kịp thời, thì chúng ta sẽ không có gì để lại cho các thế hệ tiếp nối. Kinh nghiệm của các nước như China cho thấy phát triển kinh tế nhanh nhưng phá hủy môi trường sẽ làm cho sự phát triển trả giá rất đắt về lâu dài.

SGTT: Theo GS, trong giai đoạn hiện nay, cách thức nào hạn chế những thức thức đó để đưa dân tộc đi lên?


NVT: Tôi nghĩ chúng ta nên quay lại với một lí tưởng quan trọng của ngày 2/9/1945: đó là tự do. Hai chữ này có thể hiểu rất khác nhau giữa các cá nhân, nhưng ở đây, tôi muốn hiểu tự do theo nghĩa tự do tinh thần, tự do chính trị, và tự do kinh tế. Tự do tinh thần đồng nghĩa với tự do lựa chọn niềm tin, triết lí, và không lệ thuộc vào người khác. Tự do chính trị là tiền đề của một thể chế dân chủ. Cần phải đảm bảo quyền tự do ngôn luận và quyền tranh luận của xã hội và công dân đối với những hoạt động đó. Tự do kinh tế là động lực và cũng là nguyên khí của phát triển kinh tế xã hội. Do đó, tôi rất tâm đắc với nhận xét của Amartya Sen (nhà kinh tế học gốc Ấn Độ được trao giải thưởng Nobel kinh tế) rằng “phát triển như là tự do”.

SGTT: Những trở trăn của GS với ngành y ở Việt Nam là gì? Làm thế nào để có một ngành y mạnh và theo triết lý phụng sự người dân?

NVT: Tôi nghĩ tình trạng y tế và bệnh tật ở nước ta thật đáng lo ngại. Trước đây, chúng tôi đã từng lên tiếng rằng số người chết vì tai nạn giao thông làm nhức nhối xã hội, nhưng nguyên nhân tử vong trong các bệnh viêm phổi, viêm họng, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét còn cao hơn nhiều. Mẫu số chung của các bệnh này là tình trạng thiếu dinh dưỡng vì nghèo khó, là môi trường bị ô nhiễm trầm trọng.

Nền y tế của VN càng ngày càng bị thương mại hóa. Nhiều người nhìn thấy ngành y là một môi trường kinh doanh để kiếm tiền nhanh, hơn là một thiên chức chăm sóc sức khỏe cho người dân. Y đức đang là một vấn đề nhức nhối, và đang làm rẻ rúng ngành y và suy giảm uy tín của những người làm trong ngành y.

Chúng tôi từng đề nghị và xin nhắc lại: cần phải tăng đầu tư xây dựng bệnh viện, xây dựng các cơ sở y tế ở nông thôn và phổ cập bảo hiểm y tế để người nghèo có thể tiếp cận dịch vụ y tế với phụ phí thấp. Nên có chính sách miễn phí khám bệnh và phí nhập viện cho người dân nghèo hoặc cận nghèo.

SGTT: Triết lý phát triển nào cho Việt Nam là phù hợp với bối cảnh hiện nay, thưa thầy?

NVT: Người ta hay nói đến triết lý phát triển, còn tôi thì suy nghĩ đến nguyên lý phát triển. Tôi nghĩ đến nguyên lý “phát triển bền vững” sẽ là cách phù hợp nhất để Việt Nam đi lên trong bối cảnh hiện nay. Phát triển đi đôi với huỷ hoại môi sinh, hay phát triển mà chỉ lệ thuộc nước ngoài về khoa học và công nghệ, thì không thể xem là phát triển lâu dài được. Do đó, phát triển bền vững có nghĩa là chú trọng chất lượng cuộc sống cho người dân, và đồng thời tăng nội lực dân tộc.

SGTT: Câu chuyện giáo dục truyền thống ở những nước phát triển thường được kể lại cho dân họ như thế nào, thưa GS?

NVT: Có danh nhân từng nói đại khái rằng biết được sự thật sẽ làm cho chúng ta tự do. Sự thật có thể không phải lúc nào cũng đẹp, nhưng vẫn là bài học để chúng ta vươn lên. Ở Úc, tôi thấy họ lấy cuộc chiến mà Úc thất trận ra dạy cho học sinh tiểu học và trung học. Họ không mặc cảm vì thất trận. Nhưng họ cũng không hạ thấp đối phương (là cựu thù). Trong sách giáo khoa sử của Úc, tôi không thấy những hận thù trong đó, tất cả sự kiện đều được trình bày bằng một văn phong khách quan và không cảm tính. Tôi được biết ở Nhật, người ta cũng dạy học sinh rằng Nhật từng là nước chiến bại.

SGTT: Làm thế nào để những người trẻ ý thức được rằng, để có độc lập dân tộc ta phải trả bằng máu, vậy đưa đất nước đi lên là trách nhiệm của những người con người hiện tại?


NVT: Tôi cho rằng, trong việc giáo dục lòng yêu nước, cần phải truyền đạt cho giới trẻ nằm lòng rằng: làm thế nào để không cần đổ xương máu mà vẫn có độc lập. Chuyện quá khứ là quá khứ, nhưng chuyện quan trọng hơn là hiện tại: Việt Nam đang đứng trước một chặng đường đầy nguy cơ: kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học đều suy thoái, nền tảng đạo đức xã hội lung lay và trên nhiều mặt ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Để tránh nguy cơ đó, tôi nghĩ mỗi chúng ta phải tự mình đổi mới. Mỗi chúng ta, chứ không ai khác, có nghĩa vụ đưa đất nước đi lên.

SGTT: Xin cảm ơn GS!
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Khoa học và chuyện "đi tắt"



Vài tuần trước, tôi có hân hạnh tiếp chuyện với phóng viên Lê Ngọc Sơn (báo Sinh viên Việt Nam (SVVN)) chung quanh câu chuyện “khoa học và ‘đi tắt’”. Bài phỏng vấn đã đăng trên báo SVVN vào đầu tuần này. Trong khi chờ bản chính thức điện tử, tôi chia sẻ cùng các bạn vài ý kiến để gọi là “mua vui cũng được một vài trống canh”.


SVVN: Thưa GS, ông nghĩ gì về nền khoa học cơ bản của Việt Nam hiện nay?

Nguyễn Văn Tuấn (NVT): Tôi nghĩ trước hết chúng ta cần phải minh định cái gọi là “khoa học cơ bản” và “khoa học ứng dụng”, và việc này thì có khi không dễ, bởi vì lằn ranh giữa hai lĩnh vực này rất dễ bị lu mờ. Nhưng để dễ phân định, hãy tạm thời hiểu khoa học cơ bản là những hoạt động nằm mở rộng tri thức qua việc phát triển hay kiểm định lí thuyết mới, còn khoa học ứng dụng là thu thập và phân tích dữ liệu thực nghiệm nhằm cung cấp tri thức mới. 

Nếu hiểu theo cách hiểu trên thì tôi nghĩ nhìn chung, khoa học cơ bản ở Việt Nam còn rất yếu. Số nhà khoa học thực sự làm nghiên cứu cơ bản (NCCB – fundamental research) chẳng bao nhiêu, và do đó mức độ hoạt động thể hiện qua số công trình cũng không nhiều. Dùng dữ liệu của ISI, tôi ước tính rằng số công trình NCCB của Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế mỗi năm chiếm khoảng 1/5 trên tổng số công trình. Ở một số ngành như y khoa thì nghiên cứu cơ bản còn cực kì thấp. Nhưng đây là tình trạng chung ở các nước đang phát triển vì phải đầu tư cho các vấn đề cấp thiết hơn như y tế và giáo dục.  Ở vài nước đang phát triển, người ta xem nghiên cứu cơ bản là xa xỉ, là hoạt động của các nước giàu có.

Tuy nhiên, có tín hiệu cho thấy tình hình khoa học cơ bản ở nước ta có vẻ xấu đi nhiều. Có lần nói chuyện với một bạn giảng viên ở một đại học phía nam, anh than rằng một số bộ môn khoa học cơ bản ở trường anh đang đứng trước nguy cơ bị “tuyệt chủng”, vì số sinh viên theo học quá ít. Thật vậy, cứ nhìn qua con số học sinh ghi danh vào các ngành học, chúng ta dễ dàng thấy số ghi danh các ngành như kinh tế, thương mại, kĩ thuật, y nha   dược chiếm đa số so với các ngành khoa học cơ bản như sinh học phân tử. Tình trạng này tôi đoán là sẽ xấu hơn nữa trong tương lai khi đầu tư cho nghiên cứu cơ bản còn hạn chế.


SVVN: Đối chiếu với ngành y khoa của ông thì sao? Trong những lần về nước nghiên cứu, ông thấy khoa học cơ bản trong y khoa thế nào, thưa GS?

NVT: Nghiên cứu khoa học cơ bản là nền tảng của y khoa. Không có nghiên cứu cơ bản, chúng ta khó mà biết được cơ chế của bệnh tật, và không biết cơ chế của bệnh thì việc can thiệp hay phát triển thuốc sẽ khó thành hiện thực. Chính vì thế mà nghiên cứu cơ bản đóng vai trò thiết yếu, gần như không thể thiếu được trong nghiên cứu y khoa. Trong các hội nghị khoa học, các báo cáo về nghiên cứu cơ bản chiếm ít nhất là 50% so với tổng số báo cáo.

Thế nhưng ở Việt Nam, nghiên cứu cơ bản trong y khoa rất rấtlu mờ!  Điều này có thể thấy qua các hội nghị khoa học cấp quốc gia và quốc tế và các hội thảo khoa học. Trong các hội nghị và hội thảo đó, phần lớn nội dung là những “báo cáo tổng quan” mà diễn giả chỉ đơn giản đọc lại những nghiên cứu của người khác, và diễn giả chẳng có nghiên cứu gì của chính mình để trình làng. Trong các hội nghị y học ở trong nước, rất hiếm thấy những công trình nghiên cứu cơ bản, hay nếu có thì cũng rất đơn sơ, chỉ lặp lại những gì người khác đã làm ở nước ngoài. Thật ra, phần lớn những nghiên cứu y học ở Việt Nam chỉ xoay quanh các chủ đề y tế công cộng rất thô sơ, và vì thế rất hiếm những công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu. Tôi đã nhiều lần nêu vấn đề về sự mất cân đối này trong nghiên cứu y học ở Việt Nam, nhưng có lẽ còn phải rất lâu mới khắc phục được vấn đề vì thói quen muốn làm nhanh và làm dễ đã ngự trị vào tư duy làm khoa học ở nhiều người trong một thời gian dài.  

SVVN: Chiến lược và tâm lý “đi tắt, đón đầu” trong khoa học liệu phải là một cách làm hay? Phải chăng đôi khi nó là dấu vết của kiểu tư duy “ăn xổi, ở thì”?

NVT:  Tôi đã nghe đến tư duy “đi tắt đón đầu” khá lâu, nhưng đáng ngạc nhiên là người ta lại có ý tưởng ứng dụng tư duy đó trong khoa học.  Có dạo, trước sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn, người ta có ý tưởng rằng cứ dịch những bài báo khoa học đăng trên các tạp chí trong nước thì tạp chí quốc sẽ đăng hết!  Có lẽ chính vì tư duy “ăn xổi” này mà rất nhiều nghiên cứu sinh thích chọn đề tài nào đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng để đối phó với tình thế chứ không phải để nhằm khám phá tri thức mới. Với cách làm “ăn xổi” như thế thì khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản, không thể nào phát triển được.

Trong khoa học, tri thức được xây dựng từng bước một, và phải qua kiểm định độc lập trong một thời gian dài, chứ không phải đột phá theo kiểu một sớm một chiều là có được. Khám phá nhỏ ngày hôm nay làm chứng cứ cho khám phá ngày mai, người đi sau đứng trên vai người đi trước. Chẳng hạn như đứng trước câu hỏi về hormone và bệnh tiểu đường, người làm theo tư duy “ăn xổI” hay “đi tắt đón đầu” sẽ chọn cách làm đơn giản là tìm hiểu mối tương quan trên bệnh nhân của chính anh ta, nhưng người có tư duy khoa học nghiêm chỉnh sẽ đặt câu hỏi về cơ chế của mối liên quan, và tiếp cận vấn đề qua nghiên cứu cơ bản. Cách làm ăn xổi cũng cho ra sản phẩm, nhưng sản phẩm đó chỉ là phần ngọn, chứ không đứng trên một cơ sở nào vững vàng.  Tư duy “đi tắt đón đầu” có lẽ thích hợp trong thời chiến với du kích là một chiến thuật, nhưng trong khoa học thì không có “du kích”.

SVVN: GS có cảm tưởng rằng, trong phát triển khoa học, chúng ta đang mải mê phát triển phần ngọn, mà quên đi phần gốc không?

NVT:  Ở một vài nơi thì đúng là có tình trạng chạy theo ngọn mà quên phần gốc của khoa học. Nhiều người tự hào rằng Việt Nam có thể làm được những công trình mà các nước tiên tiến đang làm, cũng có những giải thưởng lớn mà các nước tiên tiến có, nhưng trong con mắt của các nước tiên tiến thì việc làm đó chỉ thể hiện mặc cảm thua kém (inferiority complex), bởi vì họ quên rằng những công trình đó (ở Việt Nam) chưa được xây dựng trên một nền tảng vững vàng.  Người ta có thể bào chế thuốc nhưng nếu không đầu tư cho nghiên cứu cơ bản thì đó chỉ là một sự ăn theo.  Việt Nam có thể thực hiện những ca phẫu thuật lớn, nhưng không có một hệ thống khoa học cơ bản hỗ trợ đằng sau thì đó chỉ là những thành tựu mang tính kĩ thuật nhất thời chứ không bền vững.

Chẳng hạn như có nơi người ta tuyên bố rằng chỉ tài trợ cho các nghiên cứu can thiệp chứ không ưu tiên cho các nghiên cứu cơ bản. Không có nghiên cứu cơ bản thì làm sao có điều kiện cho nghiên cứu can thiệp.  Ấy thế mà có nơi qui định cực kì lạ lùng và vô lí (nếu không muốn nói là quái gở) rằng làm nghiên cứu cấp tiến sĩ là phải làm nghiên cứu can thiệp! Với những chủ trương như thế thì làm sao khoa học phát triển đồng bộ được.  Nhưng tôi nghĩ nói cho công bằng, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng quan tâm đến khoa học cơ bản.  Bằng chứng là Quĩ Nafosted ra đời chủ yếu nhằm hỗ trợ cho nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, cách thức và qui định của Quĩ này có thể cải tiến tốt hơn.  Chẳng hạn như Quĩ kì vọng  rằng các nhà nghiên cứu phải công bố một hay 2 bài báo khoa học trong vòng 2 năm sau khi nhận tài trợ là một điều rất phi thực tế trong nghiên cứu cơ bản. Tôi nghĩ để cho nghiên cứu cơ bản phát triển, Bộ Khoa học và Công nghệ cần phải tiếp cận vấn đề khác với nghiên cứu ứng dụng.

SVVN: Những năm 1960s, nước Nhật sau những cuộc chạy đua phát triển, họ đã nhận ra gót chân Achille của mình là khoa học cơ bản yếu trầm trọng, và họ đã đầu tư nhân lực cho việc này. Trên thế giới có cuộc “thức tỉnh” nào tương tự, và ý nghĩa của nó là gì, thưa GS?

NVT:  Đối với các nước đang phát triển như nước ta, người ta vẫn còn đang tranh luận chung quanh câu hỏi: ưu tiên cho khoa học cơ bản hay khoa học ứng dụng?  Đầu tư cho khoa học cơ bản đòi hỏi thời gian dài để thấy được thành quả, và chỉ có các nước giàu có mới có khả năng đầu tư như thế. Những nước như Thái Lan và Mã Lai có cách tiếp cận khác: họ phát triển khoa học ứng dụng trước, và khi đã có đủ thực lực, họ mới phát triển khoa học cơ bản.  Nhưng ở Singapore, khoa học cơ bản đi trước khoa học ứng dụng.

Một phân tích rất công phu mới vừa công bố trên tập san PLoS ONE cho thấy khoa học cơ bản là động lực, là yếu tố có liên quan đến phát triển kinh tế. Trong phân tích đó, các tác giả “chứng minh” rằng trong khối các nước có thu nhập cấp trung bình thế giới, nước nào đầu tư cho khoa học cơ bản như vật lí và hoá học thì nền kinh tế phát triển nhanh hơn những nước đầu tư cho y sinh học.  Cái thông điệp chính của phân tích này là nước nào muốn có một nền kinh tế phát triển bền vững thì cần phải đầu tư vào khoa học cơ bản; nước nào muốn bỏ qua bước này thì sẽ thất bại.  Tuy nhiên, tôi không mấy ấn tượng với nghiên cứu này vì kết quả có thể rơi vào ngụy biện địa lí (ecologic fallacy).

SVVN: Có một thực tế là những người rất giỏi về khoa học cơ bản (điển hình như 2 nhà khoa học trẻ hiện tại là Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn), nếu họ về Việt Nam chắc chẳng thể có điều kiện để phát triển đến vậy. GS nghĩ gì về chuyện tạo môi trường dụng võ?

NVT:  Đó là tình hình chung ở các nước đang phát triển.  Nước nào cũng có những cá nhân xuất sắc, nhưng nền khoa học thì không phải được định hình bởi những cá nhân đó.  Rất nhiều người Việt Nam thành công một cách vượt trội và xuất sắc ở nước ngoài dù ở Việt Nam họ không xuất thân từ những “danh gia vọng tộc” (và báo chí Việt Nam cũng không biết đến họ).  Tại sao vẫn con người đó (vẫn gene đó) và văn hoá Việt Nam, khi ở trong nước thì không làm gì được, nhưng ra nước ngoài thì lại thành công? Tôi nghĩ trong giới khoa học, không nói ra thì ai cũng biết môi trường khoa học là điều kiện tiên quyết cho phát triển khoa học và sáng tạo.  Khi nói "môi trường" tôi không chỉ nói đến cơ sở vật chất, mà còn muốn nói đến văn hoá khoa học, và các giáo sư đẳng cấp quốc tế.  Người Việt chúng  ta có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, và có thể hiểu câu đó là nếu không có các giáo sư đẳng cấp quốc tế thì rất khó có những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế.  Một nền khoa học tốt được định hình bởi nhiều nhà khoa học có trình độ cao, chứ không phải chỉ bởi vài nhà khoa học.

Nhưng ở Việt Nam, tôi thấy văn hoá khoa học ở Việt Nam chưa được định hình tốt, và do đó chưa phải là môi trường thuận lợi cho khoa học. Trong môi trường mà “chủ nghĩa cào bằng” thống trị, chủ nghĩa hình thức là cứu cánh, và sự gian dối lên ngôi thì không thể nào là môi trường cho khoa học được. Nhiều trung tâm ở Việt Nam không có chính sách đãi ngộ sáng tạo và nghiên cứu khoa học, nên nhà khoa học không có động cơ để sáng tạo.  Có nhiều nhà khoa học công bố nghiên cứu trên tập san hàng đầu thế giới, mà lãnh đạo không hề hay biết hay có biết thì cũng dửng dưng như không có chuyện gì xảy ra!  Ngược lại, những hình thức “chiến sĩ thi đua” trong thực tế chỉ khuyến khích người ta làm những công trình nghiên cứu theo kiểu “ăn xổi”, làm cho có làm, thì không thể xem là môi trường khoa học được.  Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành môi trường lí tưởng cho khoa học khi mà văn hoá khoa học còn chưa hình thành, và môi trường khoa học còn quá chông chênh.  

SVVN: Để khoa học cơ bản phát triển, theo GS, điều cốt yếu là phải làm gì?

NVT: Theo tôi, điều cốt yếu là xây dựng năng lực khoa học hay cái mà tiếng Anh gọi là capacity. Quan trọng nhất vẫn là con người, vì không có nhà khoa học thì không có nền khoa học.  Như đề cập trên, tôi thấy ở Việt Nam rất thiếu những nhà nghiên cứu cơ bản, và thành tựu của họ cũng chưa được ghi nhận đúng mức.  Tôi nghĩ chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của Singapore về phát triển khoa học cơ bản. Năm 1991, Singapore đầu tư khoảng 0.4% GDP cho khoa học và công nghệ, đến năm 2010, con số này tăng gấp đôi (0.8% GDP). Hệ quả là số nhà khoa học thuộc Nhà nước quản lí tăng gấp 4 lần (nay là 13,000 người). 

Bằng cách nào Singapore có thể phát triển nhanh như thế?  Họ gửi sinh viên và nghiên cứu sinh tiến sĩ, hậu tiến sĩ sang các đại học hàng đầu thuộc các nước phương Tây để theo đuổi nghiên cứu cơ bản. Những người này khi về nước là những nhân tố giúp cho Singapore có nền khoa học cơ bản vững vàng như ngày nay.  Trong cùng thời gian gửi sinh viên ra nước ngoài, Singapore có chính sách thu hút nhân tài từ các nước phương Tây sang Singapore để thành lập các lab và trung tâm nghiên cứu cơ bản đẳng cấp quốc tế.  Ngày nay, Singapore đã có những viện nghiên cứu cơ bản tầm cỡ quốc tế, như Viện sinh học phân tử và tế bào học (IMCB).  Việt Nam chúng ta thậm chí chưa có một viện nghiên cứu y khoa đúng nghĩa!

SVVN: Bên lề hội nghị “Windows on the Universe 2013″ ở Quy Nhơn. Phóng viên phỏng vấn giáo sư David Gross (giám đốc Viện vật lý lý thuyết Kavli ở Đại học California, Santa Barbara, giải Nobel Vật lý năm 2004). Có phóng viên hỏi: What should we do to encourage young people to go to science? David Gross trả lời:Young people don’t really need a lot of encouragement; they need opportunities. I was in Ho Chi Minh City and I met many young students who want to enter science. What you need to do is to provide more opportunities for them. GS nghĩ gì về câu chuyện này, và chuyện provide more opportunities cho người trẻ?!
NVT:  Tôi nghĩ Gs Gross nói quá đúng. Chúng ta cần tạo cơ hội cho giới trẻ đi vào khoa học hơn là khuyến khích họ.  Một vấn đề nổi cộm hiện nay là giới trẻ không nhìn thấy tương lai trong khoa học, trong khi đó nhìn chung quanh họ thấy đồng môn các ngành như kinh tế và thương mại có thu nhập cao và tương lai xán lạn.  Do đó, tôi nghĩ tạo cơ hội trước hết là tạo tương lai, cho họ nhìn thấy tương lai và sự nghiệp.  Tôi đã từng đề nghị các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam nên có những chương trình hậu tiến sĩ (chứ không phải đào tạo xong tiến sĩ là … xong), nên có những chương trình fellowship để ghi nhận đóng góp có ý nghĩa của các nhà khoa học trẻ. Không cần những giải thưởng mang tính hình thức theo kiểu truyền thông, không cần những “chiến sĩ thi đua”, không cần những giải thưởng màu mè, cũng không cần chạy theo những giải thưởng Olympic dành cho trẻ con, nhưng rất cần những chương trình thực chất để ghi nhận thành tích và nuôi dưỡng nhân tài.  Tạo cơ hội còn có nghĩa là hình thành một vài trung tâm nghiên cứu đẳng cấp elite, trung tâm xuất sắc, vì chính những nơi này là “nhà” của các nhân tài khoa học. Không có những trung tâm như thế, nhà khoa học trẻ sẽ như những người trôi dạt vô định hướng và tương lai của họ sẽ rất mù mờ.

Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác