Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Tài trợ khoa học: công bằng và khoa học


Dạo một vòng TT tôi mới phát hiện bài của ... tôi. Số là nhân câu chuyện một anh kĩ sư được Thủ tướng phê chuẩn 1 triệu USD để làm kính cho người mù, tôi có ý bàn một chuyện lớn hơn: tài trợ cho nghiên cứu khoa học sao cho công bằng. Đây là một vấn đề rất quan trọng bên nhà, nhưng tôi nghĩ khó có lối thoát trong vòng 2-3 thập niên tới.



Trong đấu trường xin tài trợ cho khoa học, chuyện thành bại là thường tình. Năm nào tụi tôi cũng viết đề cương xin tài trợ, và năm nào cũng bị bác, không ít thì nhiều. Năm nay, ở Úc trong ngành y, tỉ lệ thành công nghe đồn là dưới 10%,  %, lần đầu tiên trong lịch sử NHMRC có con số thất như thế này! Tình hình cạnh trang xin tài trợ càng ngày càng ác liệt. Do đó, có tài trợ bây giờ còn quan trọng hơn cả công bố quốc tế, bởi vì được tài trợ là có bài báo và đem tiền về cho viện/trường. Bọn làm quản lí đại học thì chúng chỉ thấy cái vế sau thôi (đem tiền về cho họ), và họ nghiễm nhiên thêm 20-30% gọi là phí quản lí!


Riêng tôi thì nghĩ rằng mô hình tài trợ hiện nay (của Úc và Mĩ nữa) là sai lầm, cần phải có cải cách sớm, chứ không thì China sẽ qua mặt. Tôi nghĩ VN không nên bắt chước mô hình của Úc hay Mĩ.

Ở trong nước thì có vấn đề lớn hơn tài trợ: vấn đề công bằng và minh bạch. Qua kinh nghiệm trong nước, tôi nhận ra 4 vấn đề chính. Đó là (a) thiếu khách quan trong bình duyệt; (b) mâu thuẫn quyền lợi; (c) chủ nghĩa thân hữu; và (d) khả năng chuyên môn hạn chế hoặc "ngồi nhầm chỗ". Vấn đề (a) thì ở đâu cũng có, nhưng VN thì hơi đặc biệt và trầm trọng hơn. Hệ quả là nhiều đề tài được/không được tài trợ một cách thiếu thuyết phục, và làm cho nhiều nhà khoa học chân chính nản chí. Có người thề thốt là không xin tài trợ từ Nhà nước nữa.

Mấy năm gần đây nhờ có Nafosted lấy lại lòng tin của những người làm khoa học chân chính. Tôi rất vui vì đã đóng góp một phần cho Nafosted từ ngày mới thành lập, và sau này là làm bình duyệt cho họ. Ước gì cấp tỉnh thành cũng có Nafosted.

=====

Công bằng và khoa học

Nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm, cần phải có tiền. Có khi rất nhiều tiền. Nhưng vấn đề và cũng là khó khăn lớn mà giới khoa học trăn trở là làm sao chọn đề tài xứng đáng để tài trợ.

Thử tưởng tượng bạn đang quản lý một số tiền hàng chục triệu USD (từ tiền thuế của dân) và muốn dùng số tiền này để tài trợ nghiên cứu khoa học, bạn sẽ chọn đề tài nào để tài trợ? Đây là một quyết định không dễ dàng chút nào, vì quyết định đó đòi hỏi một sự cân nhắc hết sức cẩn thận để đáp ứng hai tiêu chí công bằng và khoa học.

Qui trình bình duyệt

Ở các nước phương Tây, nguồn tài trợ cho nghiên cứu khoa học chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Nhưng nhà nước không trực tiếp quyết định chọn đề tài để tài trợ mà giao quyền này cho giới khoa học.

Thông thường giới khoa học lập ra những hội đồng xét duyệt đề tài, mỗi hội đồng thường có khoảng 10 thành viên, và thành viên là những người có uy tín trong chuyên ngành. Uy tín của họ thể hiện qua những công trình được công bố trên các tập san khoa học chứ không phải có vai vế trong các hiệp hội chuyên môn. Mỗi hội đồng phụ trách một chuyên ngành khoa học để đảm bảo tính chuyên biệt.

Hội đồng xét duyệt dựa trên những tiêu chí cụ thể để đánh giá và cho điểm một đề tài nghiên cứu. Chẳng hạn như họ đánh giá dựa vào bốn tiêu chí chính là: chất lượng khoa học, tầm quan trọng của công trình nghiên cứu, chất lượng của nhóm chủ trì đề tài nghiên cứu, tính khả thi và ngân sách nghiên cứu.

Mỗi tiêu chí có một loạt tiêu chuẩn để người bình duyệt có thể cho điểm. Chẳng hạn như tiêu chí chất lượng có những tiêu chuẩn cụ thể như ý tưởng hay và mới của đề tài nghiên cứu, cách tiếp cận sáng tạo. Chất lượng của nhóm nghiên cứu cũng được đánh giá qua một loạt tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu trong quá khứ, thành tích công bố quốc tế và uy tín trên trường quốc tế. Một khía cạnh quan trọng khác hội đồng cũng xem xét đến là khả năng đóng góp của đề tài nghiên cứu cho sự thịnh vượng và uy danh của quốc gia trên thế giới.

Như một quy luật, hội đồng chọn ra những đề tài có điểm cao nhất để tài trợ. Nhưng điểm chuẩn này thay đổi hằng năm tùy theo ngân sách nhà nước cung cấp. Ở Úc, trong ngành y sinh học chỉ có 10-15% đề cương có điểm cao nhất được đề nghị tài trợ. Bộ trưởng khoa học căn cứ vào đề nghị của hội đồng xét duyệt và ký phê chuẩn tài trợ cho công trình nghiên cứu.

Đó là quy trình chuẩn trong xét duyệt tài trợ đề tài nghiên cứu. Quy trình này có tên tiếng Anh là “peer review”, mà tôi tạm dịch là “bình duyệt”, đã tồn tại trên 100 năm trong thế giới khoa học phương Tây. Quy trình chuẩn này còn được áp dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, kể cả ở các nước đang phát triển.

Tuy quy trình bình duyệt mô tả trên được xem là “chuẩn vàng” nhưng trong thực tế có rất nhiều vấn đề. Những vấn đề nổi cộm là tính chủ quan trong việc xét duyệt, mâu thuẫn quyền lợi, chủ nghĩa thân hữu, khả năng chuyên môn hạn chế và đánh giá qua loa.

Các chuyên gia phục vụ trong các hội đồng xét duyệt cũng chỉ là những con người chịu sự chi phối của cảm tính và có khi rất chủ quan trong việc đánh giá. Do đó, điểm của các chuyên gia bình duyệt thường không có độ nhất quán cao. Có những đề cương nghiên cứu chuyên gia bình duyệt cho điểm rất cao nhưng lại có chuyên gia cho điểm rất thấp. Nhưng giả định là số đông sẽ trung bình hóa và đáng tin cậy hơn là cá nhân đơn lẻ.

Một số người do cạnh tranh trong chuyên ngành nên có thể tìm cách “làm khó” người chủ trì đề tài nghiên cứu. Ngược lại, với nhiều trường hợp, người ngồi trong hội đồng bình duyệt có quan hệ chuyên môn hay cá nhân với chủ đề tài, do đó phán xét của họ có thể không hoàn toàn khách quan.

Một vấn đề phổ biến khác là nhiều trường hợp người ngồi trong hội đồng xét duyệt không có chuyên môn tốt để đánh giá đề tài nghiên cứu, nên họ có thể đánh giá sai hoặc đánh giá qua loa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết cục của đề tài nghiên cứu. Tuy quy trình bình duyệt có nhiều vấn đề nhưng trong thực tế đó là quy trình tốt nhất hiện nay trong các phương pháp đánh giá đề tài nghiên cứu.

Ở Việt Nam, trên nguyên tắc, quyết định tài trợ cho nghiên cứu khoa học cũng được giao cho giới khoa học. Chẳng hạn như quy trình xét duyệt đề tài nghiên cứu của Quỹ NAFOSTED là khá gần với quy trình chuẩn ở các nước phương Tây. Ở cấp tỉnh thành cũng có những hội đồng xét duyệt nhưng do thiếu nhân sự nên vẫn còn khá nhiều bất cập.

Có những người “ngồi nhầm chỗ”, tức những người chưa bao giờ làm nghiên cứu và chưa bao giờ được tài trợ cho nghiên cứu, nhưng lại ngồi trong các hội đồng xét duyệt đề tài của người đã có tài trợ và làm nghiên cứu khoa học! Tình trạng ngồi nhầm chỗ khá phổ biến ở các cấp tỉnh thành, do một phần rất khó tìm những chuyên gia thích hợp và có tư cách khoa học (như có công bố quốc tế tốt và uy tín trong chuyên ngành) để phục vụ trong các hội đồng xét duyệt.

Ngoài ra, còn có vấn đề mâu thuẫn quyền lợi và quan hệ cá nhân nên hệ quả là kết quả bình duyệt không mang tính thuyết phục cao. Nhiều đề tài nghiên cứu chất lượng thấp lại nhận được tài trợ, ngược lại những đề tài có chất lượng cao và mới thì bị bác bỏ.Sự bất cập này gây tác hại về tâm lý rất lớn đến giới nghiên cứu vì họ không tin vào tư cách chuyên môn của hội đồng xét duyệt, do đó không muốn nộp đề cương nghiên cứu.

Yếu tố chính trị

Tài trợ cho nghiên cứu khoa học qua quy trình bình duyệt có những điểm yếu đáng kể. Ngoài những vấn đề nêu trên, các hội đồng bình duyệt thường có xu hướng tài trợ các trường nổi tiếng hoặc các viện đẳng cấp “tinh hoa” (elite).

Các hội đồng bình duyệt cũng có khuynh hướng chọn những đề tài an toàn, những đề tài tuân theo các trường phái hiện hành, do đó các đề tài mang tính đột phá thường bị bác bỏ. Thật vậy, rất nhiều đề tài nghiên cứu mà sau này được trao giải thưởng Nobel dù trước đó hay bị các hội đồng bình duyệt từ chối tài trợ.

Để đáp ứng những phê phán chính đáng của giới khoa học và để yểm trợ những nhà khoa học có viễn kiến tốt, chính phủ tạo ra một cơ chế tài trợ khoa học mới và đặc biệt, mà tiếng Anh hay gọi là “academic earmarking” - có thể hiểu là quỹ đặc biệt.

Đây là một cơ chế tài trợ mang tính chính trị, và do đó bỏ qua quy trình bình duyệt chuẩn trong khoa học. Chỉ riêng năm 2003, Quốc hội Mỹ dành ra một ngân sách 2 tỉ USD cho quỹ đặc biệt để tài trợ 1.964 dự án đặc biệt.

Như có thể hiểu được, cơ chế tài trợ theo quỹ đặc biệt này gây ra nhiều tranh cãi dai dẳng. Giới khoa học quá quen thuộc với quy trình bình duyệt công khai gièm pha và chỉ trích các quỹ đặc biệt, vì chúng có thể đe dọa đến sự liêm chính của khoa học và giảm ngân sách cho nghiên cứu khoa học.

Nhưng ngược lại, những nhà khoa học được tài trợ từ các quỹ đặc biệt thì hoan hỉ vì họ không phải bị “hành” bởi các hội đồng bình duyệt mà có khi họ không cảm thấy thuyết phục.

Ở Việt Nam, ngoài quy trình bình duyệt chuẩn trên, thỉnh thoảng đó đây vẫn có những quyết định tài trợ cho khoa học mà không dựa vào một hội đồng xét duyệt nào. Những quyết định có thể mang tính chính trị như thế, trước là minh chứng cho sự quan tâm của giới lãnh đạo đến khoa học, sau là gieo một niềm tin mới cho giới khoa học, nhất là những người ở giai đoạn đầu trong sự nghiệp khoa học. Dĩ nhiên, những quyết định như thế này cũng làm các nhà khoa học trong cơ chế bình duyệt cảm thấy họ không được đối xử công bằng.

Rốt cuộc thì câu hỏi cần phải trả lời là nhà nước muốn tài trợ cho khoa học như thế nào? Trong khi các chương trình tài trợ theo cơ chế quỹ đặc biệt tăng theo thời gian, nhiều câu hỏi khác được đặt ra: Tài trợ cho khoa học có nên quyết định bởi những chính trị gia?

Quỹ đặc biệt có hiệu quả nâng cao năng lực khoa học của các trường đại học? Quỹ đặc biệt có duy trì hay nâng cao khả năng sáng tạo khoa học của một quốc gia hay không? Một trong những nguy cơ có thể thấy trước là một khi cơ chế tài trợ khoa học từ các quỹ đặc biệt trở thành thường quy sẽ tạo ra một kỹ nghệ vận động hành lang của các trường đại học hay viện nghiên cứu với hệ quả là các chuẩn mực vàng như công bằng và khoa học sẽ bị đe dọa.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Cách tắt chế độ auto play video trên Facebook

Gần đây Facebook đã cập nhật và thêm vào tính năng auto play cho các video trên Facebook. Bạn sẽ dễ dàng nhận biết khi đang lướt New feeds và thấy các video tự động chạy mà chúng ta không tác động gì cả.

Cách tắt chế độ auto play video trên Facebook
Read more »
Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác

Vượt Thái Lan chỉ số đổi mới toàn cầu: Đừng tự mãn!


Đây là một trao đổi ngắn giữa phóng viên báo ĐV và tôi xung quanh thông tin mới đây về năng suất khoa học của vài đại học Việt Nam. Bài phỏng vấn bàn về mô hình hoạt động khoa học sao cho có hiệu quả, và tôi có dịp thổ lộ một chút suy nghĩ ... 



====


Vượt Thái Lan chỉ số đổi mới toàn cầu: Đừng tự mãn!
PV: Vừa qua, kết quả thống kê có tính chất tham khảo của hai nghiên cứu sinh Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền theo cách tính số lượng bài báo công bố trên ISI trên tổng số cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ, của một số đại học có số lượng công bố quốc tế hàng đầu Việt Nam tính từ đầu năm 2015 đến nay, bằng cách tổng hợp dữ liệu từ trang Web of Science.

Kết quả có chỉ rõ, Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) và Đại học Tôn Đức Thắng là hai trường có số lượng công bố quốc tế lớn nhất. Trong khi, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh có số lượng tiến sĩ nhiều nhất nhưng số lượng công bố quốc tế lại thấp hơn rất nhiều. Ông có bất ngờ trước nghịch lý này hay không? Theo ông, đây chỉ là hiện tượng nhất thời hay dự báo xu hướng gì?

NVT: Tôi nghĩ những nỗ lực của hai tác giả Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền là rất quí, họ làm việc nghiêm túc và dựa vào nguồn dữ liệu đáng tin cậy. Qua đó họ đã gióng một tiếng nói báo động về năng suất khoa học của các trường đại học lớn của Việt Nam. Dĩ nhiên, có người suy nghĩ khác, nhưng đây là bước đầu nên còn nhiều cải tiến trong tương lai.

Tôi không bất ngờ lắm về kết quả của hai tác giả Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền, vì năm ngoái tôi cũng có làm một phân tích tương tự, và kết quả cũng cho thấy một số đại học mới và tương đối nhỏ đang trên đà tăng trưởng nghiên cứu khoa học rất nhanh. Đáng kể là những trường đại học Duy Tân, Tôn Đức Thắng, Đồng Tháp, Nha Trang.

Số lượng tiến sĩ và giáo sư nhiều không có nghĩa là mặc nhiên có năng suất khoa học cao. Trong thực tế, theo kinh nghiệm của tôi, ở bất cứ đại học nào trong hay ngoài nước chỉ có một số ít giáo sư và tiến sĩ thường xuyên nghiên cứu khoa học, và chính số này quyết định năng suất cho toàn trường.

Do đó, vấn đề là làm sao tạo động lực cho phần còn lại để tham gia vào nghiên cứu khoa học, và trường nào làm được việc này thì sẽ nắm thế thượng phong. Tôi nghĩ hai đại học Duy Tân và Tôn Đức Thắng đã biết được cái "bí quyết" đó nên họ tiến nhanh là điều không ngạc nhiên.

PV: Theo chia sẻ của lãnh đạo trường ĐH Duy Tân thì để có được năng suất nghiên cứu khoa học cao, cũng như số lượng công bố quốc tế lớn, thì nhà trường phải mở rộng hợp tác quốc tế đặc biệt theo chiến lược "đứng trên vai của những người khổng lồ", đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, cũng như nguồn kinh phí để khuyến khích phát triển khoa học. Với cách làm khoa học như của ĐH Duy Tân có đáng để chúng ta tham khảo hay không?

Cách làm này thì có thể tăng số lượng công bố quốc tế, nhưng tác động của nó với việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Việt Nam thì phải nhìn nhận ra sao, thưa ông?

NVT: Thật ra, hiện nay, khoảng 70-80% bài báo khoa học của Việt Nam là do hợp tác với nước ngoài, và một số lớn là do nhà khoa học nước ngoài chủ trì. Đó là tình trạng chung của nước và của các đại học lớn. Ngay cả những công trình “đình đám” trên báo chí gần đây cũng là của nước ngoài chủ trì. Nhưng điều đáng mừng là các đại học nhỏ, như ĐH Tôn Đức Thắng chẳng hạn, thì phần lớn công trình là do Trường đầu tư và nhà khoa học của Trường chủ trì.

Nhiều người cũng phân vân về mô hình nghiên cứu khoa học của Trường đại học Duy Tân, nhưng tôi thấy việc họ làm là bình thường. Trong khi thực lực khoa học còn thấp, thì Trường phải tìm cách nâng cao năng lực từ các nguồn, kể cả Việt kiều ở nước ngoài. Ở nước ngoài các đại học đều tăng cường hợp tác để trước hết là xây dựng năng lực khoa học cho trường, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, và sau là nâng cao năng suất khoa học. Đó cũng là chủ trương chung của Việt Nam, tức là thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài về hợp tác nghiên cứu. Trong khi cả nước nói chung chưa làm thành công, nhưng có những đại học làm được thì cần khuyến khích.

Tôi biết một số trường đại học Việt Nam đầu tư mạnh cho nghiên cứu khoa học, bằng cách lập labo và nhóm nghiên cứu chuyên sâu. Chẳng hạn như Đại học Quốc gia TPHCM đầu tư xây dựng labo cho một số nhà khoa học nước ngoài về làm việc. Tương tự và trước đó, Trường Đại học Tôn Đức Thắng cũng đã đầu tư lập hơn 20 labo và nhóm nghiên cứu, và chính những labo này nâng cao năng suất khoa học cho nhà trường. Tôi biết ĐH Duy Tân cũng theo mô hình này. Tôi nghĩ đây là mô hình rất tốt, theo xu hướng chung trên thế giới, và là một cách triển khai chủ trương của Nhà nước. 

Cũng cần nói thêm là chúng ta nên tránh "mô hình" mua bài báo khoa học mà một số đại học ở Saudi Arabia làm. Những đại học đó rất giàu, họ có cách làm khá đặc thù: họ đi tìm những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, viết thư cho họ và đề nghị để tên trường của Saudi Arabia vào bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố, và trường sẽ trả vài chục ngàn USD cho mỗi bài báo.
Chúng ta phải tuyệt đồi tránh tình trạng đó, vì làm như thế chẳng xây dựng được năng lực khoa học cho trường và cho Việt Nam.


Con người là yếu tố quan trọng nhất

PV: Theo ông có cách nào để nâng cao năng lực khoa học, và nâng cao năng suất khoa học cho Việt Nam?

NVT: Đây là một câu hỏi lớn và làm tôi càng ngày càng … bạc đầu. Tôi có dịp đi đây đó ở Á châu và xuất phát từ kinh nghiệm thực tế, tôi tin rằng chìa khoá nằm ở 4 yếu tố: con người; năng lực và chất lượng khoa học; môi trường khoa học; và tổ chức và quản lí.

Trong một hội thảo về khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ở Hạ Long vào tháng 5 năm nay, tôi có đề ra những biện pháp để thu hút nhân tài từ nước ngoài, tạo môi trường tự do học thuật, tổ chức lại hệ thống phân phối tài trợ cho nghiên cứu, và tinh giản bộ máy quản lí khoa học.
Tôi nghĩ con người là chìa khoá quan trọng nhất, là yếu tố và cũng là điều kiện số 1 để xây dựng và thúc đẩy một nền khoa học có cơ may phát triển bền vững. Nghiên cứu khoa học, cũng như bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, bắt đầu từ các nhà khoa học.

Uy danh của một nền khoa học được xây dựng trên một tập thể những nhà khoa học có uy tín và có "tên tuổi" trên trường quốc tế. Họ là thành phần ưu tú (hay elite) trong cộng đồng khoa học, đóng vai trò lãnh đạo và đề ra viễn kiến, định hướng nghiên cứu, và chuyển gia thành quả nghiên cứu đến kĩ nghệ.

Ở nước ta hiện nay, số nhà khoa học hạng elite cấp quốc tế còn rất ít. Nếu tính theo chỉ số H trên 20 (chỉ là một cách tính thô) thì số nhà khoa học Việt Nam có chỉ số như thế chỉ khoảng 20 người.
Do đó, tôi đề nghị Chính phủ nên thiết lập các chương trình nghiên cứu (ở nước ngoài có khi người ta gọi là “fellowship program”). Tôi đề nghị gọi chương trình này là “Vietnam Fellowship Program” (VFP).

Tôi nghĩ đến chương trình VFP này nên nhắm vào 5 mục tiêu chính là: Một là, khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú; hai là, đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”); ba là, xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ.

Bốn là, khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia; và năm là, khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ.

Nói tóm lại, mục tiêu chính của VFP là nhắm vào việc xây dựng một cộng đồng khoa học gia loại “hoa tiêu” để nâng cao tính cạnh tranh của nước ta trên trường khoa học quốc tế. Hiện nay, các đại học như Duy Tân và Tôn Đức Thắng đã làm gần giống như VFP, nhưng họ không trả lương, và cũng không gọi theo cách gọi đó.

PV: Vừa rồi, giới khoa học chính thống Việt Nam hồ hởi trước thông tin chỉ số đổi mới toàn cầu của Việt Nam cao hơn Thái Lan nhưng xem xét các yếu tố thì điểm sáng tạo của VN lại kém xa nước bạn xin ông chia sẻ thêm về vấn đề này? Phản ứng của giới khoa học chính thống gợi lên cho ông những suy nghĩ gì?

NVT: Tôi nghĩ chúng ta chỉ xem những bảng xếp hạng như thế để tham khảo thôi, chứ không nên dựa vào đó mà tự mãn. Cũng giống như bảng xếp hạng giáo dục trung học PISA mà trong đó Việt Nam đứng khá cao, cao hơn cả Úc và Mĩ, nhưng chúng ta biết rằng những cách làm như thế còn rất nhiều hạn chế, không phản ảnh thực lực của chúng ta. Trong thực tế, Việt Nam có tình trạng “tị nạn giáo dục” thì những bảng xếp hạng như thế rất vô ý nghĩa. Chỉ có chúng ta biết chúng ta mạnh chỗ nào và yếu chỗ nào, chứ chẳng có bảng xếp hạng nào định lượng được. 

Hiện nay, nếu tính trên số công trình khoa học công bố quốc tế, Việt Nam chúng ta đứng hạng 68 (trên 236 nước), thấp hơn Thái Lan (hạng 42), Mã Lai (43), nam Dương (64), và dĩ nhiên thấp hơn Singapore (hạng 32). Tất cả các chỉ số về kinh tế tri thức, năng lực sáng tạo, giáo dục. Việt Nam chúng ta đều thấp hơn các nước vừa kể. Chỉ có một chỉ số mà chúng ta tương đương họ là công nghệ viễn thông - thông tin, nhưng khi nhìn kĩ vào chỉ số này thì họ tính dựa trên số người sử dụng điện thoại di động, và số điện thoại di động do Samsung xuất khẩu. Nói như thế để thấy là chúng ta không nên tin vào những bảng xếp hạng "tổng hợp" như thế nếu không xem xét cách người ta làm.

PV: Năng suất lao động thấp, khả năng áp dụng công nghệ kém, bản thân các doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ kém. Viễn cảnh của nền kinh tế Việt Nam nếu cứ ngày càng xa rời chuẩn mức của thế giới sẽ như thế nào, thưa ông? Ông đã nhìn thấy tín hiệu gì từ phía các nhà quản lý để giải quyết vấn đề này hay chưa? Đứng ở góc độ chuyên gia, ông có tư vấn gì không?

NVT: Vâng, bức tranh chung thì rất ảm đạm như phóng viên vừa mô tả. Đó là chưa kể đến nợ công ngày càng chồng chất, và chúng ta tiếp tục đi vay. Nguồn tài nguyên dần dần cạn kiệt. Chúng ta đang rơi vào cái bẫy "thu nhập trung bình" mà các chuyên gia đã cảnh báo trước đây. Chúng ta phải nghiêm túc tự vấn: Chúng ta sẽ để lại di sản gì cho con cháu mai sau, hay chỉ là một đống nợ. 

Tôi không ở trong nước nên khó có tư cách để trả lời câu hỏi của phóng viên. Nhưng tôi theo dõi qua báo chí thì thấy sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là do sự xoay sở và năng động của doanh nghiệp. Hiện nay, theo tôi biết thì Chính phủ duy trì các tập đoàn kinh tế Nhà nước là chủ đạo, nhưng tôi nghĩ như nhiều chuyên gia khác là nên chấp nhận và hỗ trợ tăng cường vai trò của các tập đoàn kinh tế ngoài Nhà nước. Ngoài ra, phải "giải phóng" con người, hiểu theo nghĩa tạo điều kiện để tiếng nói bảo vệ quyền lợi cho người công nhân thiết thực và hiệu quả hơn.



Xem về làm đẹp thẩm mỹ: Hút mỡCăng da mặt
| Trẻ hóa Âm đạo và vùng kín Các thông tin bí ẩn và dịch vụ dịch thuật giá rẻ chuyên nghiệp nhất Sài Gòn - dịch thuật VNC khác